|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HS - ST Ngày: 06 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuyến
2. Ông Phan Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Thành Công - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Ngọc Mai - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 115/2024/TLST - HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Chu Văn K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/09/1974; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chu Văn K1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình; Có vợ là: Hoàng Thị D, có 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2006;
Tiền án: 01 - Tại Bản án số 51/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt Chu Văn K 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2022.
Tiền sự: Không
Nhân thân: Tại Quyết định số 10/2015/QĐ-TA ngày 22/6/2015, Tòa án nhân dân huyện Đại Từ Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Chu Văn K vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng (chấp hành xong ngày 04/10/2016).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: Đào Văn T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10/10/1989; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Trọng T1 và bà Đào Thị S; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là: Hoàng Khánh L, có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân:
- + Tại Quyết định số 389/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ đã Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã P đối với Đào Văn T, thời hạn 03 tháng. Chấp hành xong ngày 30/3/2022.
- + Tại Quyết định số 00057/QĐ-XPHC ngày 15/02/2022 của Công an huyện Đ đã xử phạt Đào Văn T 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã nộp phạt ngày 21/02/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
3. Họ và tên: Đào T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 03/3/1961; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Văn T2 và bà Dương Thị B (đều đã chết); Gia đình có 08 anh em, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; Có vợ là: Đào Thị M, có 02 con, con lớn sinh năm 1980, con thứ hai sinh năm 1983;
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Có mặt tại phiên tòa)
- Người làm chứng:
- + Anh Đinh Văn C, sinh năm 1990 (Vắng mặt tại phiên toà)
- Nơi cư trú: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- + Anh Triệu Văn T3, sinh năm 1986 (Vắng mặt tại phiên toà)
- Nơi cư trú: Xóm Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- + Anh Nông Quí N, sinh năm 1983 (Vắng mặt tại phiên toà)
- Nơi cư trú: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- + Ông Tống Văn H, sinh năm 1964 (Vắng mặt tại phiên toà)
- Nơi cư trú: Xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người chứng kiến:
- + Ông Hoàng Văn T4, sinh năm 1966 (Vắng mặt tại phiên toà)
- Nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- + Anh Nông Đức T5, sinh năm 1994 (Vắng mặt tại phiên toà)
- Nơi cư trú: Xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 25/6/2024, Tổ công tác Công an xã M, huyện Đ tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã M. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra đến khu vực bãi rác thải thuộc xóm M, xã M, huyện Đ thì phát hiện 02 đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít là Đinh Văn C, sinh năm 1990, trú tại xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Triệu Văn T3, sinh năm 1986, trú tại xóm Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. C và T3 khai số chất ma túy vừa sử dụng trên Chức và T3 mua của Chu Văn K, sinh năm 1974, trú tại xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm: 03 mảnh giấy một mặt vàng một mặt trắng cùng kích thước 04x4,5cm; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy một mặt cùng kích thước 04x7cm; 01 bật lửa ga màu xanh (toàn bộ niêm phong vào bì ký hiệu A) và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xử lý theo quy định của pháp luật.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, Tổ công tác Công an xã P, huyện Đ tiến hành kiểm tra trên địa bàn xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra đến khu vực dốc bà T6 thuộc xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện 02 đối tượng đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức hít là Tống Văn H, sinh năm 1964, trú tại: xóm T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Nông Q Nội sinh năm 1983, trú tại xóm C, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. N và H khai số chất ma túy vừa sử dụng do N và H mua của Đào Văn T, sinh năm 1989, trú tại: xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm: 01 mảnh giấy có một mặt màu trắng, một mặt vàng kích thước 4,7x4,7cm; 01 mảnh giấy có một mặt trắng, một mặt màu bạc kích thước 4,7x4,7cm; 02 mảnh giấy bạc kích thước 2,5 x 06cm đã bị đốt cháy một mặt; 01 bật lửa ga màu đỏ (toàn bộ niêm phong vào bì ký hiệu T) và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xử lý theo quy định của pháp luật.
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thi hành lệnh khám xét người, chỗ ở, đồ vật đối với Chu Văn K tại xóm C, xã Đ, huyện Đ. Kết quả khám xét thu giữ: Số tiền 2.690.000 đồng (niêm phong vào bì ký hiệu E); 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong vào bì ký hiệu B); 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu hồng lẫn chất bột màu trắng; 04 vỏ túi nilon bên trong bám dính chất bột màu trắng (niêm phong vào bì ký hiệu C); 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng (niêm phong vào bì ký hiệu B); 01 điện thoại di động OPPO màu xanh ngọc lắp 02 sim số 0812814412 và 0378191612 (niêm phong vào bì ký hiệu D); 01 dao tem bám dính chất bột màu trắng (niêm phong vào bì ký hiệu C).
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thi hành lệnh khám xét người, chỗ ở, đồ vật đối với Đào T tại xóm T, xã P, huyện Đ. Kết quả khám xét: Không thu giữ gì.
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, địa điểm đối với Đào Văn T tại xóm N, xã P, huyện Đ. Kết quả khám xét thu giữ gồm: Số tiền 750.000 đồng tiền Ngân hàng N2 (Niêm phong vào bì ký hiệu D); 01 điện thoại Oppo màu xanh đen lắp sim 0868077122 (Niêm phong vào bì ký hiệu C); 01 lọ nhựa không màu, bên trong lọ này có 11 gói giấy (loại giấy một mặt màu trắng, một mặt vàng) bên trong đều có chất bột màu trắng và 01 túi nilông bên trong có chất bột màu trắng dạng cục (Niêm phong vào bì ký hiệu B); 01 dao tem; 05 mảnh giấy; 01 điện thoại Nokia màu trắng đỏ, bên trong không lắp sim, không hoạt động.
Hồi 13 giờ 40 phút ngày 26/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K3 Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Chu Văn K: Số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B có khối lượng 0,501 gam. Lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu B1 gửi giám định. Vỏ giấy gói và vỏ phong bì B niêm phong vào phong bì ký hiệu B2.
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 28/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K3 Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Đào Văn T: Số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B có khối lượng 1,321 gam. Lấy toàn bộ mẫu chất bột niêm phong vào phong bì ký hiệu B1 gửi giám định. Vỏ giấy gói và vỏ phong bì B niêm phong vào phong bì ký hiệu B2.
Tại Bản kết luận giám định số 789/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: Số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 (thu của Chu Văn K) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H2), có khối lượng là 0,501 gam.
- - Các túi nilon trong bì niêm phong ký hiệu C gửi giám định có bám dính chất ma túy, loại Heroine (H) và Methamphetamine.
- - Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên dao tem trong bì niêm phong ký hiệu C gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 800/KL-KTHS ngày 06/7/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 (của Đào Văn T) gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là: 1,321 gam.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo Chu Văn K, Đào Văn T, Đào Thư V1 khai nhận như sau: Ngày 20/6/2024, Chu Văn K một mình đi đến khu vực ngã ba B thuộc xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua chất ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Tại đây K gặp 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi mà K không biết tên, địa chỉ cụ thể, qua giao dịch, K mua được 03 gói chất ma túy, loại Heroine được gói bằng giấy với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được chất ma túy, K mang về nhà và sử dụng hết 01 gói chất ma túy. Ngày 22/6/2024, K đi cắt gỗ tại xóm N, xã P, huyện Đ mang theo 02 gói chất ma túy loại Heroine còn lại để sử dụng và có ai hỏi mua thì sẽ bán để kiếm lời. Khoảng 10 giờ 40 phút cùng ngày, Đào Văn T sử dụng điện thoại di động gọi cho K để hỏi mua 1.000.000 đồng tiền chất ma túy Heroine, K đồng ý. Khoảng 12 giờ cùng ngày, K đi cùng Lưu Viết C1 đến nhà T, khi tới dưới nhà T thì C1 đứng dưới sân chờ, còn T và K đi lên trên nhà sàn của T, tại đây, K bán cho Triều 02 gói chất ma túy Heroine với giá 1.000.000 đồng rồi T cầm 02 gói chất ma túy H1 đi về.
Khoảng 16 giờ ngày 25/6/2024, Đ Thư Viện gọi điện thoại cho K nói với K muốn đi mua ma tuý về để sử dụng dần mà không biết mua ở đâu, nhờ K dẫn đi mua, K hỏi Viện muốn mua bao nhiêu tiền, V1 nói có số tiền khoảng 7.000.000 đồng, K đồng ý và gọi điện thoại qua mạng xã hội Zalo cho một người đàn ông có tên “XmDT” để hỏi mua 8.500.000 đồng tiền chất ma túy Heroine và 05 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến, người này đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực ngã ba B thuộc xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, V1 điều khiển xe mô tô BKS: 20F1 - 74187 đến đón K đang đứng đợi tại rìa đường thuộc xóm T, xã Đ, huyện Đ rồi đổi lái. Kiểm điều khiển xe mô tô của V1 chở Viện đến khu vực ngã ba B thuộc xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, trên đường đi, Viện đưa cho K 7.000.000 đồng để khi gặp người bán ma tuý K mua hộ chất ma túy Heroine. Khoảng 17 giờ cùng ngày, K và V1 đến khu vực ngã ba B, K xuống xe rồi đi tới gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi, không rõ tên, địa chỉ, khi đó V1 đứng ở xe mô tô cách 3m, K đưa cho người này số tiền 8.500.000 đồng (trong đó 7.000.000 đồng của V1 và 1.500.000 đồng của K) người này đưa lại cho K 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa chất ma túy Heroine và ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Sau đó, K quay lại chỗ V1 đang đợi cách đó khoảng 03m và đưa bao thuốc lá có chứa ma túy bên trong cho V1 cầm, còn K điều khiển xe mô tô chở Viện quay về đến nơi Kiểm gửi xe mô tô gần nhà trước đó. Khi đến nơi gửi xe, K xuống xe rồi Viện đưa lại bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa ma túy cho K, khi K mở ra, bên trong bao thuốc lá Thăng Long là 01 túi nilon được cuốn băng dính đen, bên trong lớp băng dính đen có 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 03 túi nilon (02 túi chứa chất ma túy loại Heroine, 01 túi chứa chất ma túy Heroine và 05 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến). Kiểm đưa cho Viện 02 túi chứa chất ma túy loại Heroine và giữ lại 01 túi chứa chất ma túy Heroine và 05 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Kiểm mang số chất ma túy trên về nhà, lấy ra một phần chất ma túy loại Heroine và 02 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến sử dụng. Số chất ma túy Heroine còn lại Kiểm chia thành 05 gói nhỏ và cất giấu cùng 03 viên ma túy tổng hợp để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 25/6/2024, K đang ở nhà thì có Đinh Văn C và Triệu Văn T3 cùng nhau đến nhà K hỏi mua ma túy về sử dụng. Tại bàn uống nước kê ngoài sân nhà K, C mua của K 02 gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng và 01 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với giá 1.100.000 đồng, T3 mua của K 01 gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với giá 500.000 đồng. Đến đêm ngày 25/6/2024, K tiếp tục sử dụng dùng hết 02 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến. Số ma túy còn lại gồm 02 gói chất ma túy loại Heroine (trong đó 01 gói cất giấu ở đầu giường ngủ bên dưới chiếu ngủ trong phòng ngủ; 01 gói cất giấu trên nóc tủ kê trong phòng ngủ) Kiểm tiếp tục cất giấu để sử dụng cho bản thân thì đến 08 giờ 00 phút ngày 26/6/2024 bị Cơ quan điều tra khám xét, thu giữ như đã nêu trên.
Đối với Đào Thư V1, sau khi cầm 02 gói ma tuý loại H1 cùng K đi mua và sau đó K đưa cho về nhà, V1 mang 02 gói ma tuý loại Heroine cất giấu nhằm mục đích sử dụng dần cho bản thân. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày 26/6/2024 khi biết việc K bị Cơ quan điều tra khám xét nhà về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, do lo sợ nên Viện đã ném 02 gói ma tuý loại Heroine vào bếp để đốt nhằm tiêu hủy hết 02 gói ma tuý loại Heroine nêu trên. Bị cáo xác định về nguồn gốc số Heroine thu giữ được tại nhà Kiểm là số Heroine mà ngày 25/6/2024 Viện và K cùng đi mua về mục đích để sử dụng, bị cáo không biết việc K sau đó bán Heroine cho con nghiện khác để kiểm lời.
Đối với Đào Văn T sau khi T mua được số ma túy của K, T đã sử dụng một phần, phần còn lại Triều chia thành 14 gói nhỏ (01 gói được gói bằng giấy màu bạc, 13 gói được gói bằng giấy một mặt trắng một mặt vàng) rồi cất giấu sau ốp lưng điện thoại của T để bán kiếm lời. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, khi T đang ở nhà thì có Nông Quý N1 gọi điện thoại hỏi mua ma túy của T, T đồng ý. Đến khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày thì T đang ở nhà thì N1 đến nhà, qua giao dịch, N1 mua được của T 01 gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng giấy màu bạc với giá 200.000 đồng, sau khi mua được chất ma túy N1 mang về sử dụng hết. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đang ở nhà thì N1 đến nhà T hỏi mua chất ma túy, T đồng ý và bán cho N1 01 gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng giấy màu vàng với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, Tống Văn H đến nhà T hỏi mua chất ma túy, T bán cho H 01 gói chất ma túy loại Heroine được gói bằng giấy màu vàng với giá 200.000 đồng. Số ma túy còn lại T tiếp tục cất giấu trong 01 lọ nhựa mục đích để bán cho những người nghiện khác kiếm lời thì đến 10 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ khám xét, thu giữ như đã nêu trên. Bị cáo K khai không biết việc T mua ma tuý về để bán kiếm lời.
Tại quá trình điều tra anh Lưu Viết C1 khai trưa ngày 22/6/2024 K ru đi xem đồi cây cùng K, trên đường đi Kiểm có rẽ vào nhà T có việc, đến nhà Kiểm anh đứng dưới sân một lúc, K lên nhà với T trước, sau đó anh mới lên nhà, anh không biết sự việc T bán ma tuý cho K.
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 07 phong bì niêm phong ký hiệu B1, B2, T, A, B1, B2, C;
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu D bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo K, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 phong bì niêm phong ký hiệu V bên trong có 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo V1, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, màu trắng, BKS: 20F1-74187 thu giữ của bị cáo Đào Thư V1. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định là chiếc xe ngày 25/6/2024 bị cáo cùng K đi mua ma tuý.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0868077122 thu giữ của bị cáo T, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 dao tem, 05 mảnh giấy kích thước 4,7x4,7cm;
- + 01 điện thoại Nokia màu đỏ trắng, không có pin, không hoạt động thu giữ của bị cáo T, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 camera màu đen, đã qua sử dụng, không có thẻ nhớ, dây kết nối nguồn dài 1,9 mét, không hoạt động thu giữ của bị cáo T. Quá trình điều tra và tại phiên toà xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- + Số tiền 3.440.000 đồng tiền Ngân hàng N2. Trong đó có 750.000 đồng thu giữ của bị cáo T. 2.690.000 đồng thu giữ của bị cáo K. Các bị cáo xác định số tiền trên là của cá nhân các bị cáo.
Hiện vật chứng đang được bảo quản tại Kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.
Đối với các đối tượng Đinh Văn C, Triệu Văn T3, Nông Quí N, Tống Văn H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển các tài liệu có liên quan đến Công an xã M, Công an xã P để giải quyết theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSĐT, ngày 20/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố:
- + Bị cáo Chu Văn K về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Đào Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Đào Thư V1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
- + Bị cáo Chu Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Bị cáo Đào Thư V1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Điều luật áp dụng và đề nghị xử phạt:
- + Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS; điểm b,c khoản 2, khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Điều 38 BLHS; Điều 55 BLHS; Điều 17, Điều 58 BLHS
- Xử phạt bị cáo K từ 24 - 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 08 năm - 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt đối với Chu Văn K từ 10 năm - 11 năm tù. Phạt bổ sung Kiểm từ 0 5- 07 triệu đồng sung quỹ nhà nước.
- + Áp dụng: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS;
- Xử phạt bị cáo T từ 08 năm - 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Phạt bổ sung Triều từ 05 - 07 triệu đồng sung quỹ nhà nước.
- + Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Điều 38 BLHS; Điều 17, Điều 58 BLHS.
- Xử phạt Viện từ 24 - 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập và không có tài sản riêng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47/BLHS, Điều 106 BLTTHS.
- - Tịch thu tiêu hủy: 07 phong bì niêm phong ký hiệu B1, B2, T, A, B1, B2, C; 01 dao tem, 05 mảnh giấy kích thước 4,7x4,7cm.
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Phong bì niêm phong ký hiệu D bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo K; phong bì ký hiệu V bên trong có 01 chiếc điện thoại di động, loại bàn phím, nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo V1; 01 xe mô tô BKS 20F1 - 74187 là phương tiện bị cáo sử dụng đi mua ma túy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO lắp sim số 0868077122;
- - Truy thu số tiền 2.600.000 đồng tiền thu lời bất chính của K từ việc bán ma túy; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 90.000 đồng thu giữ của K còn lại.
- - Truy thu số tiền 600.000 đồng tiền thu lời bất chính của T từ việc bán ma túy; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 150.000 đồng thu giữ của T còn lại.
- - Trả lại 01 camera màu đen có dây nguồn kết nối dài 1,9 mét cho T.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy:
- - Khoảng 12 giờ ngày 22/6/2024, tại khu vực xóm N, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Chu Văn K đã thực hiện hành vi bán trái phép cho Đào Văn T 02 gói chất ma túy loại Heroine với số tiền 1.000.000 đồng.
- - Khoảng 19 giờ 50 phút ngày 25/6/2024, tại khu vực xóm C, xã Đ, huyện Đ, Chủ Văn K2 đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Đinh Văn C 02 gói chất ma túy loại Heroine và 01 viên ma túy tổng hợp dạng hồng phiến với số tiền 1.100.000 đồng và bán cho Triệu Văn T3 01 gói chất ma túy loại Heroine với số tiền 500.000 đồng. Đến 08 giờ 00 phút ngày 26/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét nơi ở của Kiểm thu giữ 0,501 gam (không phẩy năm không một gam) chất ma túy loại Heroine. Về nguồn gốc 0,501 gam chất ma túy loại Heroine bị thu giữ trên Kiểm khai là số ma tuý ngày 25/06/2024 cùng đi mua với Đào T tại ngã ba B thuộc địa phận xã C, huyện P của một người đàn ông không quen biết, sau khi đã sử dụng và bán một phần cho một số đối tượng để kiếm lời còn lại mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
- - Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 27/6/2024, tại khu vực xóm N, xã P, huyện Đ, Đào Văn T đã bán 01 gói chất ma túy loại Heroine với số tiền 200.000 đồng cho Nông Quý N1. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, tại khu vực xóm N, xã P, huyện Đ, T tiếp tục bán 01 gói chất ma túy loại Heroine với số tiền 200.000 đồng cho Nông Quý N1. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày tại khu vực xóm N, xã P, huyện Đ, Triều bán 01 gói chất ma túy loại Heroine cho Tống Văn H với số tiền 200.000 đồng. Đến 10 giờ 30 phút ngày 28/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ khám xét, nơi ở của Triều thu giữ 1,321 gam chất ma túy loại Heroine, bị cáo xác định mục đích để bán cho các con nghiện khác để kiếm lời.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận hành vi của:
- + Bị cáo Chu Văn K đã đủ yếu tố cấu thành các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Đào Văn T đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo Đào Thư V1 đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển .... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
- a)....
- c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...".
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- b) Phạm tội 02 lần trở lên;
- c) Đối với 02 người trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”
[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò và hành vi của các bị cáo: Tính chất của vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng đối với hành vi của K, T, thuộc trường hợp nghiêm trọng đối với hành vi của Viện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Nên cần phải xử lý nghiêm minh, đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có tổ chức.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo K có nhân thân rất xấu, trước đó đã có 01 tiền án ngày 27/8/2020 bị Toà án nhân dân huyện Đại Từ xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2022 chưa được xoá án tích, do đó lần phạm tội lần này là tái phạm và đã 01 lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị cáo T có nhân thân xấu đã 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính; Bị cáo Viện không có tiền án, tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo T có ông nội là liệt sỹ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo T, V1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo K phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt:
Căn cứ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. HĐXX thấy, khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; tuy nhiên, cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung:
- + Bị cáo Viện tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- + Bị cáo T, K bán ma tuý để kiếm lời do đó cần áp dụng quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung các bị cáo một số tiền nhất định nộp ngân sách nhà nước.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với các bị cáo tại phiên tòa như trên là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
[6]. Vật chứng của vụ án:
- + Đối với 07 phong bì còn nguyên tình trạng niêm phong ký hiệu B1, B2, T, A, B1, B2, C và 01 dao tem đã qua sử dụng, 05 mảnh giấy có cùng kích thước 4,7x4,7cm là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, số Imei 1: 865194059082011, số Imei 2: 865194059082003, bên trong điện thoại có lắp 02 sim điện thoại 0812.814.xxx và 0378191612, niêm phong trong phong bì ký hiệu D, thu giữ của bị cáo K, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội nên cân tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, có số Imei: 352259/02/888797/0, bên trong có lắp sim 0337108172 niêm phong trong phong bì ký hiệu V, thu giữ của bị cáo V1, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, màu trắng, gắn BKS: 20F1 – 74187, có số máy: JA70E0056337, số khung: RLHJA3933PY041458, thu giữ của bị cáo Đào Thư V1, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, loại màn hình cảm ứng, số I: 866376042010873, bên trong có lắp sim số 0868077122 thu giữ của bị cáo T, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- + Đối với 01 điện thoại Nokia màu đỏ trắng, không có pin, không hoạt động thu giữ của bị cáo T, bị cáo xác định sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 camera màu đen, đã qua sử dụng, không có thẻ nhớ, dây kết nối nguồn dài 1,9 mét, không hoạt động thu giữ của bị cáo T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng. Tuy nhiên cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
- + Số tiền 3.440.000 đồng tiền Ngân hàng N2. Trong đó có 750.000 đồng thu giữ của bị cáo T và 2.690.000 đồng thu giữ của bị cáo K. Là số tiền cá nhân của các bị cáo cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho các bị cáo.
[7]. Truy thu sung quỹ Nhà nước:
Bị cáo T bán ma tuý thu lời bất chính số tiền 600.000 đồng và bị cáo K bán ma tuý thu lời bất chính số tiền 2.600.000 đồng nên cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10]. Các nội dung có liên quan khác: Quá trình điều tra bị cáo K khai về nguồn gốc số Heroine mua của 02 người đàn ông không quen biết vào ngày 20/6/2024 và 25/6/2024 tại khu vực ngã ba B thuộc xã C, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch của những người đàn ông trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
- + Bị cáo Chu Văn K phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- + Bị cáo Đào Thư V1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
2.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Chu Văn K 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 8 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
2.2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đ Thư Viện 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/6/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Quyết định tạm giam bị cáo V2 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2.3 Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
3. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ: 07 phong bì còn nguyên tình trạng niêm phong ký hiệu B1, B2, T, A, B1, B2, C và 01 dao tem đã qua sử dụng, 05 mảnh giấy có cùng kích thước 4,7x4,7cm.
- + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, số Imei 1: 865194059082011, số Imei 2: 865194059082003, bên trong điện thoại có lắp 02 sim điện thoại 0812.814.xxx và 0378191612, niêm phong trong phong bì ký hiệu D thu giữ của bị cáo Chu Văn K.
- - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng, có số Imei: 352259/02/888797/0, bên trong có lắp sim 0337108172 niêm phong trong phong bì ký hiệu V, thu giữ của bị cáo Đào Thư V1.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave, màu trắng, gắn BKS: 20F1 - 74187, có số máy: JA70E0056337, số khung: RLHJA3933PY041458, thu giữ của bị cáo Đào Thư V1.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng, loại màn hình cảm ứng, số I: 866376042010873, bên trong có lắp sim số 0868077122 thu giữ của bị cáo Đào Văn T.
- - 01 điện thoại Nokia màu đỏ trắng, không có pin, không hoạt động thu giữ của bị cáo Đào Văn T.
- + Tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo Đào Văn T 01 camera màu đen, đã qua sử dụng, không có thẻ nhớ, dây kết nối nguồn dài 1,9 mét, không hoạt động.
- + Tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo Đào Văn T số tiền 750.000 đồng tiền Ngân hàng N2.
- + Tạm giữ để bảo đảm thi hành án cho bị cáo Chu Văn K số tiền 2.690.000 đồng tiền Ngân hàng N2.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong Quyết định chuyển vật chứng số 103/QĐ - VKSĐT ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).
4. Truy thu sung quỹ Nhà nước:
- + Số tiền 600.000 đồng đối với bị cáo Đào Văn T.
- + Số tiền 2.600.000 đồng đối với bị cáo Chu Văn K.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Triệu Cẩm Chi |
Bản án số 118/2024/HS - ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý (hình sự)
- Số bản án: 118/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: + Bị cáo Chu Văn K phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội“Mua bán trái phép chất ma tuý”. + Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. + Bị cáo Đào Thư V phạm tội“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
