|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/HS-ST Ngày 10 - 9 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Vũ và bà Nguyễn Thị Vân Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Tô Quang Đô – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Quyền – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hồ Trọng H, sinh ngày 19 tháng 01 năm 1994 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Trọng S (đã chết) và bà Lê Thị H1, sinh năm 1962; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/4/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự số: 36/2013/HS-ST (Đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Ngọc A, sinh năm 1962;
- Anh Phạm Ngọc M, sinh năm 1989;
- Chị Siu H2' S1, sinh năm 2000;
Trú tại: Số B Bắc Kạn, tổ B, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (có mặt).
Trú tại: Số C T, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
Trú tại: Tổ B, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Anh Bùi Trung D, sinh năm 1988;
Trú tại: Tổ F, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ ngày 17/5/2024, Hồ Trọng H đang ở phòng trọ số 02 địa chỉ tại hẻm B Bắc Kạn, tổ B, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum thì có T (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến chơi. Lúc này, H nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng. Vì không biết người bán ma túy nên H nhờ T liên hệ mua hộ 500.000 đồng ma túy đá thì T đồng ý. T gọi điện thoại liên hệ xong thì nói H đến ngã ba xã Đ, thành phố K lấy ma túy. Sau đó, T đi về, H điều khiển xe mô tô biển số 82KA-4496 đến điểm hẹn thì có 01 nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến hỏi “có phải chỗ anh T đến lấy đồ không”, H nói “phải”. Nam thanh niên đưa H 01 bì ni lông trong suốt bên trong chứa ma túy, H đưa lại số tiền 500.000 đồng. Mua xong, H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe mô tô về lại phòng trọ của mình. Tại phòng trọ, H lấy gói ma túy vừa mua được đem chia ra thành 07 gói nhỏ đựng trong bì ni lông trong suốt hàn kín rồi cất giấu trong túi quần sau bên phải của H. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi H đang ở một mình trong phòng trọ thì Công an thành phố K đến kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra đã phát hiện, thu giữ 07 gói ma túy trong túi quần sau bên phải của H và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật theo quy định.
Tại Kết luận giám định số: 161/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh K kết luận:
Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M7) trong 07 bì ni lông trong suốt hàn kín gửi giám định là ma tuý, loại: Methamphetamine, có khối lượng: 0,688 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 114/CT-VKSTPKT ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum truy tố bị cáo Hồ Trọng H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hồ Trọng H từ 18 – 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy 0,648 gam ma túy loại Methamphetamine (Số ma túy còn lại sau giám định). 01 kéo bằng kim loại; 01 quẹt ga đã qua sử dụng; 01 vỏ bì ni lông trong suốt.
- - Trả lại cho bị cáo Hồ Trọng H 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt trước và sau bị vỡ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong vì bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- - Trả lại cho anh Phạm Ngọc M: 01 xe mô tô biển số 82KA-4496 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong vì anh .
Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Trọng H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình và không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Trọng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 10 giờ ngày 17/5/2024, tại phòng trọ số B khu N Bắc Kạn, tổ B, phường T, thành phố K, bị cáo Hồ Trọng H đã có hành vi tàng trữ 0,688 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Với hành vi như trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự hiện hành là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiềm ẩn các nguy cơ có tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, do đó, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như góp phần đấu tranh phòng chống có hiệu quả tệ nạn ma túy nói riêng, các loại tệ nạn xã hội nói chung.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu. Đã từng một lần bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng đây cũng là căn cứ để Hội đồng xét xử đánh giá ý thức pháp luật và khả năng cải tạo của bị cáo khi lượng hình.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không có cơ sở áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự hiện hành đối với bị cáo.
[7] Trong vụ án, còn có người đàn ông tên “T” là người đã liên hệ mua hộ ma túy cho bị cáo và 01 nam thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo, hiện nay, chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K tách ra, tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý các đối tượng này sau là phù hợp.
Đối với bà Phan Thị Ngọc A là chủ của phòng trọ số 02 và chị Siu H3 là người đứng tên hợp đồng thuê phòng trọ số 02: Bà Phan Thị Ngọc A và chị Siu H3 không biết việc bị cáo H tàng trữ trái phép chất ma túy tại phòng trọ này nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bà Phan Thị Ngọc A và chị Siu H3 là có căn cứ.
Đối với anh Phạm Ngọc M là chủ sở hữu xe mô tô biển số 82KA-4496: Anh M không biết việc bị cáo H sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum không xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Phạm Ngọc M là phù hợp.
[8] Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,648 gam ma túy loại Methamphetamine (Số ma túy còn lại sau giám định) đựng trong 01 bì ni lông; 08 bì ni lông trong suốt; 01 phong bì đựng mẫu vật gửi giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 46/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán. Đây là tang vật chứng của vụ án và là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt trước và sau bị vỡ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Được niêm phong trong phong bì dán kín có chữ ký của những người liên quan và các dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ghi chữ ĐT: Đây là tài sản của bị cáo H không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Hồ Trọng H.
Đối với 01 xe mô tô biển số 82KA-4496 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong: Đây là tài sản của anh Phạm Ngọc M, vì anh M không biết việc bị cáo H sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy nên trả lại xe mô tô nêu trên cho anh Phạm Ngọc M.
Đối với 01 kéo bằng kim loại; 01 quẹt ga đã qua sử dụng; 01 vỏ bì ni lông trong suốt: Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội của bị cáo H, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Hồ Trọng H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 0,648 gam ma túy loại Methamphetamine (Số ma túy còn lại sau giám định) đựng trong 01 bì ni lông; 08 bì ni lông trong suốt và 01 phong bì đựng mẫu vật gửi giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 161/KL-KTHS”, mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ*CÔNG AN TỈNH KON TUM” và các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán; 01 kéo bằng kim loại; 01 quẹt ga đã qua sử dụng; 01 vỏ bì ni lông trong suốt.
- - Trả lại cho bị cáo Hồ Trọng H: 01 điện thoại di động dạng cảm ứng, mặt trước và sau bị vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong. Được niêm phong trong phong bì dán kín có chữ ký của những người liên quan và các dấu hình tròn màu đỏ của Công an phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum, ghi chữ ĐT.
- - Trả lại cho anh Phạm Ngọc M: 01 xe mô tô biển số 82KA-4496 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Hồ Trọng H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/5/2024).
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tuyên:
(Theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Kon Tum).
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hồ Trọng H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (10/9/2024), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Nếu những người nói trên vắng mặt thì có quyền kháng cáo trong 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Phương Loan |
Bản án số 118/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 118/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo rút kháng cáo
