Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 118/2024/HS-PT

Ngày 28-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/HSPT ngày 11/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 271/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1996, tại tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; nơi ở khi bị bắt: H đường B, phường A, TP, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; bố: Nguyễn Văn Đ và mẹ: Huỳnh Thanh K; Chồng: Không, có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018;
    Tiền án, tiền sự: Không;
    Bị bắt ngày 31 tháng 01 năm 2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
  2. Nguyễn Hữu Thiên P, sinh năm 1996, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở khi bị bắt: 888/28/4 đường C, Phường A, TP, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; bố: Nguyễn Hữu C và mẹ: Phan Thị H;
    Tiền án, tiền sự: Không;
    Bị bắt ngày 31 tháng 01 năm 2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác và bị hại nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Vào đầu năm 2023, bị cáo Trịnh Quốc T sinh sống như vợ chồng với bị cáo Nguyễn Thị L tại phòng trọ địa chỉ H B, Phường A, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Quá trình sống chung với nhau, bị cáo L có kể cho bị cáo T nghe về việc anh Đặng Văn Đ1 thường xuyên nhắn tin gạ gẫm rủ rê bị cáo L đi nhà nghỉ cùng anh Đ1 và nói những lời không hay về bị cáo L. Đồng thời, bị cáo L kể anh Đ1 có nợ em rể của bị cáo L là anh Phạm Hồng T1 số tiền 1.200.000đồng, anh Đ1 cũng nhắn tin với anh T1 nói nếu tạo điều kiện cho anh Đ1 ngủ với bị cáo L thì mới trả tiền. Nghe bị cáo L nói như vậy, bị cáo T bức xúc muốn tìm gặp anh Đ1 đánh dằn mặt để không làm phiền bị cáo L nữa và đòi tiền.

    Ngày 29/01/2024, bị cáo T bàn bạc với bị cáo L hẹn anh Đ1 đến khu vực gần trạm điện thuộc đường B, phường A, TP .. Sau đó, bị cáo L nhắn tin với anh Đ1 và được anh Đ1 đồng ý đến nơi hẹn vào tối ngày 30/01/2024. Khoảng 16 giờ ngày 30/01/2024, bị cáo T gọi điện rủ bị cáo Nguyễn Văn T2, còn bị cáo L gọi điện rủ bị cáo Nguyễn Hữu Thiên P cùng đi đến chỗ hẹn mà L đã hẹn với anh Đ1. Khi được rủ, bị cáo T2 và bị cáo P đến phòng trọ của bị cáo T và bị cáo L để bàn bạc kế hoạch khi anh Đ1 tới nơi hẹn thì bị cáo T sẽ đánh anh Đ1, nếu anh Đ1 bỏ trốn thì bị cáo T2 và bị cáo P sẽ đứng ra chặn anh Đ1 lại. Cả nhóm ngồi nói chuyện khoảng 10 phút thì bị

    cáo T cầm theo 01 cây phơi đồ được làm bằng kim loại dài khoảng 96cm tại phòng trọ của bị cáo T rồi ngồi sau xe của bị cáo T2, còn bị cáo L ngồi sau xe của bị cáo P cùng đi đến điểm hẹn. Khi đến điểm hẹn thì bị cáo L đứng một mình chờ anh Đ1 còn các bị cáo T2, T và P đứng phục tại một con hẻm gần đó.

    Đến khoảng 20giờ 10 phút cùng ngày, anh Đ1 điều khiển xe mô tô hiệu Sirius biển số 72G1-342.24 đến điểm đã hẹn, thấy anh Đ1 đến thì bị cáo T cầm cây kim loại lao ra rồi dùng chân đạp anh Đ1 nhưng không trúng. Thấy vậy, anh Đ1 để xe lại và bỏ chạy, bị cáo T tiếp tục cầm cây kim loại đuổi theo anh Đ1. Chạy được khoảng gần 100 mét thì anh Đ1 bị vấp ngã, bị cáo T đuổi kịp và dùng cây đánh nhiều lần vào tay và chân của anh Đ1, rồi tiếp tục dùng chân đạp vào mặt của anh Đ1. Sau đó, anh Đ1 bỏ chạy vào trong nhà dân tại đường B, Phường A, TP . thì bị cáo T đuổi đến và đứng trước cổng.

    Cùng lúc đó, khi thấy anh Đ1 bỏ chạy thì bị cáo P dựng xe mô tô biển số 72G1-342.24 của anh Đ1 lên và điều khiển xe mô tô biển số 72G1-342.24 chở bị cáo T2 ngồi sau đuổi theo anh Đ1, bị cáo L đi bộ theo sau. Khi cả nhóm đuổi tới nhà dân nơi anh Đồng T3 thì các bị cáo T, P, T2, L kêu anh Đ1 đi ra ngoài để nói chuyện. Khoảng 05 phút sau, anh Đ1 đi bộ ra ngoài sân để nói chuyện, khi anh Đ1 vừa ra ngoài, bị cáo T cầm cây kim loại trên tay đánh 02 nhát trúng vào chân của anh Đ1 rồi yêu cầu anh Đ1 phải quỳ xuống, tiếp đó bị cáo T dùng chân phải đạp thẳng vào mặt anh Đ1 rồi chửi và bắt anh Đ1 đi lại chỗ bị cáo L đứng cách đó khoảng 05m để quỳ xuống xin lỗi bị cáo L, lúc này bị cáo L và bị cáo T2 sử dụng điện thoại di động cá nhân để quay lại video hình ảnh anh Đồng Q xuống xin lỗi. Lúc này, bị cáo T và bị cáo T2 yêu cầu anh Đ1 phải trả số tiền nợ T1 là 1.200.000đồng, nhưng anh Đ1 không có tiền trả, nghe vậy bị cáo T2 dùng chân phải đạp 02 cái vào người của anh Đ1. Anh Đồng lục trong túi thì còn 7.000đồng nên nói hiện không còn tiền và hứa sẽ trả sau. Bị cáo T hỏi anh Đ1 khi nào trả thì anh Đ1 nói hẹn vào thứ bảy sẽ trả nhưng bị cáo T không đồng ý và bắt anh Đ1 phải viết giấy vay tiền. Bị cáo T và bị cáo T2 yêu cầu anh Đ1 phải về nhà lấy số tiền 10.000.000đồng hoặc là để lại xe mô tô, biển số 72G1-342.24 để thế chấp và viết giấy vay số tiền 4.000.000 đồng. Bị cáo T yêu cầu anh Đ1 đi lại bàn ghế đá trước cửa nhà địa chỉ 3 B, Phường A, Tp . và bắt anh Đ1 tiếp tục quỳ xuống, bị cáo P hỏi mượn người dân 01 tờ giấy và cây viết để anh Đ1 viết giấy vay số tiền 4.000.000 đồng và thế chấp xe mô tô, biển số: 72G1-342.24 cho bị cáo T đứng tên chủ nợ của anh Đ1. Nội dung giấy nợ yêu cầu anh Đ1 phải trả tiền, nếu không trả được tiền thì bị cáo T sẽ lấy xe mô tô, biển số

    72G1-342.24. Ngay sau khi bị cáo Đ1 viết xong thì bị cáo T, T2 và anh Đ1 đi bộ, còn bị cáo P điều khiển xe mô tô, biển số: 72G1-342.24 chở bị cáo L đi lại vị trí điểm hẹn ban đầu. Tại đây, bị cáo T2 gọi xe ôm grap để cho anh Đ1 về, bị cáo T2 và bị cáo Phúc tự đi về, còn bị cáo T thì điều khiển xe mô tô, biển số: 72G1-342.24 chở bị cáo L đi đến bệnh viện T4 để gửi chiếc xe mô tô của anh Đ1 vào bãi xe của bệnh viện rồi cả hai về phòng trọ.

    Sau khi sự việc xảy ra, anh Đ1 đến Công an P1, Tp . trình báo. Tại cơ quan điều tra, các bị cáo T, L, P và T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên đồng thời chỉ dẫn nơi giấu chiếc xe để Cơ quan Công an thu hồi.

    Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐG-TTHS, ngày 21 tháng 03 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng Hình sự thành phố V: 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, biển số: 72G1-342.24, có giá trị 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

    Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo T2 tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bị hại có xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2.

    Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

    • Thu giữ 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xám đen, biển số: 72G1-342.24. Cơ quan CSĐT Công an T đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Đặng Văn Đ1.
    • 01 cây gậy được làm bằng kim loại màu trắng bạc có chiều dài 96cm, phần ruột rỗng có đường kính 2,4cm, một phần cây gậy bị cong móp biến dạng, hai đầu gậy được hàn bulong gắn chặt với gậy được chuyển đến cơ quan Thi hành án dân sự T5 chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
    • 01 tờ giấy gấp đôi có kẻ ô li, mỗi một mặt có kích thước 20,5cm x 15,4cm, góc trên cùng bên trái có in chữ A.Thành Đạt, một mặt của tờ giấy có ghi nội dung về việc vay mượn tiền, phía dưới có chữ ký và ghi tên Đặng Văn Đ1, những mặt còn lại trống, không có chữ viết, hiện đang được niêm phong trong một phong bì màu trắng và 01 đĩa CD có chứa 01 đoạn video có độ dài 8 phút 25 giây, ghi lại hình ảnh nội dung vụ việc xảy ra vào ngày 30/01/2024 tại địa chỉ 3 B, Phường A, TP .. hiện đang được niêm phong trong một phong bì màu trắng chuyển theo hồ sơ vụ án.

    * Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Văn Đ1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

  2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 271/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

    Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P phạm tội “Cướp tài sản”

    2.1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 31 tháng 01 năm 2024.

    2.2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Thiên P 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 31 tháng 01 năm 2024.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo khác, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

  3. Ngày 06/9/2024, bị cáo Nguyễn Hữu Thiên P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  4. Ngày 10/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  5. Tại phiên tòa phúc thẩm:
    • Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
    • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

    Về tố tụng: Các bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

    Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P mỗi bị cáo 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là phù hợp, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  6. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:

Do giữa bị cáo Nguyễn Thị L và anh Đặng Văn Đ1 có mâu thuẫn, nên bị cáo Nguyễn Thị L nói với bị cáo Trịnh Quốc T, sau đó bị cáo T và bị cáo L thống nhất hẹn gặp anh Đ1 để đánh dằn mặt và đòi tiền nợ anh rể bị cáo L. Ngày 29/01/2024, bị cáo Trịnh Quốc T đã rủ bị cáo Nguyễn Văn T2, còn bị cáo Nguyễn Thị L rủ bị cáo Nguyễn Hữu Thiên P gặp nhau tại nhà bị cáo T và bị cáo L, cùng nhau bàn bạc để bị cáo L hẹn anh Đ1 đến khu vực trạm điện thuộc đường B, phường A, TP . đánh dằn mặt. Sau khi bị cáo L hẹn được anh Đ1 thì khoảng 20 giờ 10 phút ngày 30/01/2024 tại địa điểm trên, bị cáo T và bị cáo T2 dùng hung khí, vũ lực đuổi đánh anh Đ1, sau đó bắt anh Đồng Q xin lỗi bị cáo L và ép anh Đ1 phải viết giấy vay nợ số tiền 4.000.000 đồng, do anh Đ1 không có tiền nên các bị cáo đã chiếm đoạt xe mô tô Sirius BKS 72G1-342.24 trị giá 4.500.000 đồng của anh Đ1. Bị cáo L và bị cáo P mặc dù không trực tiếp sử dụng hung khí hoặc vũ lực với anh Đ1, nhưng đã tham gia tích cực trong việc bàn bạc, giúp sức trong việc uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt xe của anh Đ1 với vai trò đồng phạm.

Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P phạm tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương do đó cần phải xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục riêng đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P mỗi bị cáo 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt.

Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 271/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P phạm tội “Cướp tài sản”

    1.1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 31 tháng 01 năm 2024.

    1.2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Thiên P 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 31 tháng 01 năm 2024.

  2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 271/2024/HSST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thị L và Nguyễn Hữu Thiên P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS thành phố Vũng Tàu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2024/HS-PT ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự (cướp tài sản)

  • Số bản án: 118/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger