|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11-7-2024
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mạc Hoàng Nhủ.
Ông Bùi Minh Thiệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Văn Kil – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Thôn H, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.
- Bị đơn: Ông Đoàn Thanh H, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 02 năm 2024 nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày: Vào năm 2013, bà và ông Đoàn Thanh H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không hợp nhau về quan điểm, không hiểu nhau trong cuộc sống, ông H thường xuyên tham gia đánh bạc nên tình nghĩa vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng ly thân khoảng 04 năm. Cuộc sống vợ chồng không đoàn tụ được nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đoàn Thanh H. Trong quá trình chung sống bà và ông H có một người con chung tên Đoàn Khánh P, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014, con chung đang do ông H trực tiếp nuôi dưỡng, sau khi ly hôn bà yêu cầu giao con chung cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Đối với ông Đoàn Thanh H là bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông H vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị N. Cho bà Phạm Thị N ly hôn với ông Đoàn Thanh H; Giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đoàn Thanh H, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Phạm Thị N là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Phạm Thị N. Ông Đoàn Thanh H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Đoàn Thanh H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Đoàn Thanh H tự nguyện chung sống với nhau và năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai nên hôn nhân của bà Phạm Thị N với ông Đoàn Thanh H là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà N yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Đoàn Thanh H. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ ông Đoàn Thanh H nhiều lần để tham gia xét xử nhưng ông H vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Phạm Thị N. Bà Phạm Thị N cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống với nhau khoảng 04 năm. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Phạm Thị N với ông Đoàn Thanh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị N về việc yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Thanh H.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Phạm Thị N và ông Đoàn Thanh H có một người con chung tên Đoàn Khánh P, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014, con chung do ông H đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà N yêu cầu giao con chung cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý cho ông Đoàn Thanh H nhưng ông H không có ý kiến gì về yêu cầu của bà N. Xét thấy, từ khi bà N và ông H không còn chung sống đến nay con chung do ông H trực tiếp nuôi dưỡng và người con chung Đoàn Khánh P có nguyện vọng được chung sống với ông H. Để bảo đảm quyền lợi và sự ổn định của con chung nên Hội đồng xét xử giao người con chung tên Đoàn Khánh P, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014 cho ông Đoàn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Ông H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung bà Phạm Thị N, ông Đoàn Thanh H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị N phải chịu 300.000đ, bà Phạm Thị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Phạm Thị N và ông Đoàn Thanh H.
- Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Đoàn Khánh P, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2014 cho ông Đoàn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Bà Phạm Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ theo biên lai thu tiền số 0003295 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà Phạm Thị N đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều |
Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đoàn Thanh H, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung
