|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2024
“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 110/2024/TLST - HNGĐ, ngày 05/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐ-ST, ngày 15/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Q, sinh năm 1991
HKTT: Thôn B V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990
HKTT: Thôn B V, xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại Hàn Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung :
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phạm Thị Q và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn ngày 05/01/2016 tại UBND xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
Chị Phạm Thị Q trình bày: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Tháng 2 năm 2016 anh T đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, do sống xa cách, vợ chồng ít liên lạc, quan tâm nhau từ đó tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Đầu năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, khác biệt thói quen sinh hoạt. Mặc dù vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhiều lần để hàn gắn tình cảm gia đình, nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung. Tháng 7 năm 2018 chị Q đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn, từ đó đến nay cợ chồng sống ly thân, không liên lạc, quan tâm nhau. Quan hệ vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh Nguyễn Văn T thông qua người thân anh T là ông Nguyễn Văn T1 - Bố đẻ anh T. Ông T1 cho biết chị Q, anh T tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, gia đình có tổ chức lễ cưới, sau khi cưới khoảng 1 tháng anh T đi lao động tại Hàn Quốc, từ khi đi đến nay mới về nước 01 lần, hiện nay đang ở Hàn Quốc. Anh T, chị Q mâu thuẫn là do chị Q ngoại tình. Ông T1 điện thoại có âm thanh, hình ảnh cho anh T, anh T trình bày và Tòa án đã ghi lại tại biên bản ngày 07/6/2024, anh T đồng ý ly hôn với chị Q. Theo anh T trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do sống xa nhau, không quan tâm nhau, quan điểm sống không phù hợp, chị Q có người đàn ông khác.
2. Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/10/2016.
Chị Q có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi con đủ 18 tuổi. Trường hợp Tòa án giao con cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng thì chị Q tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000₫ cho đến khi con đủ 18 tuổi. Tại bản tự khai ngày 07/6/2024 chị Q có nguyện vọng giao con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và chị tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ.
Anh T có nguyện vọng trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị Q cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, 464, 469 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83,123, 127 Luật hôn nhân gia đình; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Q, cho chị Phạm Thị Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn T; về con chung: Giao con chung Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/10/2016 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí buộc chị Q phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại công văn số 686/PA08-Đ1, ngày 18/7/2024 của Phòng Q1 Công an tỉnh H về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Văn T đã xuất cảnh ngày 26/5/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trên hệ thống. Theo thông tin người nhà anh T cho biết hiện tại anh đang lao động tại Hàn Quốc. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh T đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Theo Công văn số 253/TANDTC-PC, ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ và Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh Nguyễn Văn T qua ông Nguyễn Văn T1 là bố của anh T. Ông T1 không cung cấp địa chỉ hiện tại của anh T tại nước ngoài. Tòa án gửi công văn đề nghị ban Đ đăng thông tin cho anh T. Đ đã đăng thông tin cho anh T trong 3 ngày liên tiếp từ ngày 31/7/2024 và 01,02/8/2024 nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Chị Q có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt chị Q, anh T theo quy định tại Điều 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Q và anh Nguyễn Văn T đăng ký kết hôn 05/01/2016 tại UBND xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo chị Q trình bày quan hệ vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, từ năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh qua thân nhân của anh T, tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn T1 (bố anh T), đăng thông tin cho anh T trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng anh T không có mặt tại Tòa án theo giấy báo. Tại biên bản ghi lời trình bày của anh T ngày 07/6/2024, anh T đồng ý ly hôn với chị Q. Theo anh T trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do sống xa nhau, không quan tâm nhau, quan điểm sống không phù hợp, chị Q có người đàn ông khác. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị Q và anh T không còn tình cảm, vợ chồng sống ly thân nhiều năm, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Q xử cho chị Phạm Thị Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn T
[2.2] Quan hệ con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/10/2016. Theo chị Q trình bày do chị phải đi lạo động tại nước ngoài, cháu K từ khi sinh ra đến nay sinh sống với ông bà nội ổn định nên chị Q có nguyện vọng giao con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi ý kiến anh T ngày 07/6/2024, anh T có nguyện vọng được nuôi con chung. Xét thấy, từ khi sinh ra đến nay cháu K ở với ông bà nội, mặc dù cháu K có đơn trình bày nguyện vọng được ở với chị Q, tuy nhiên, để đảm bảo sự phát triển cũng như điều kiện sinh hoạt hàng ngày cho cháu K, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao chon chung Nguyễn Đăng K cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T không có mặt ở Việt Nam, ông T1 thay anh T chăm sóc cháu K. Chị Q có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ kể từ ngày 09/9/2024 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phạm Thị Q không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[2.4] Về án phí: Chị Phạm Thị Q phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về quyền kháng cáo : Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107,110, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 28, 37, 227, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Q được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Đăng K, sinh ngày 02/10/2016 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ kể từ ngày 09/9/2024 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Q có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.
3. Về án phí: Buộc chị Phạm Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000902 ngày 05/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh, chị Q còn phải nộp 300.000đ.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phạm Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Bùi Văn Hồng | Bùi Minh Thư |
| Nguyễn Thái L |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bùi Minh Thư |
Bản án số 118/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 118/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
