|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2024/DS-PT Ngày: 09/12/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Võ Đình Phương |
| Các thẩm phán: | Ông Lê Thành Trung |
| Ông Nguyễn Trung Tín |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05 và 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 115/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích Thủy, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Số 06 Lô 27 đường Triệu Quang Phục, phường Vĩnh Hòa, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- * Bị đơn: Ông Trần Văn Toản, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn Mỹ Giang, xã Ninh Phước, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- * Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Bích Thủy.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích Thủy trình bày:
Qua môi giới của bà Nguyễn Thị Hoàng My, ngày 11/5/2023, bà Thủy và ông Trần Văn Toản ký kết hợp đồng đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng để đảm bảo cho việc chuyển nhượng thửa đất số 299, tờ bản đồ số 23 tại số 13, tổ 9 Tháp Bà, phường Vĩnh Phước, Nha Trang, Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 264534, số vào sổ cấp GCN: CS01041 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Khánh Hòa cấp cho ông Trần Văn Toản ngày 19/9/2022. Theo đó, hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 3.800.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc: 30 ngày kể từ ngày 11/5/2023 đến ngày 10/6/2023, sau đó hai bên sẽ cùng nhau làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đến ngày 04/6/2023, do bà chưa lấy đủ tiền bán nhà của bà ở ngoài bắc nên bà xin nộp trước 02 tỷ cho ông Toản nhưng ông Toản không chịu mà đồng ý viết hợp đồng đặt cọc lần thứ 2 với nội dung gia hạn thời hạn đặt cọc đến hết 24 giờ ngày 11/7/2023. Đến ngày 11/7/2023, bà và ông Toản đến Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng tuy nhiên ông Toản không cung cấp cho bà các giấy tờ thể hiện tính pháp lý của thửa đất để bà an tâm chuyển tiền mà còn thông báo là bà mất tiền cọc và mất quyền mua thửa đất của ông Toản. Bà không đồng ý, vì thế nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy hai hợp đồng đặt cọc ngày 11/5 và 04/6/2023, đồng thời yêu cầu ông Trần Văn Toản phải trả lại cho bà số tiền bà đã đặt cọc cho ông Toản là 200.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà Thủy cung cấp văn bản trình bày về yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu ông Toản phải trả số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng, bồi thường chi phí đi lại và chi phí tổn thất tinh thần cho bà Thủy; yêu cầu tòa án ngăn chặn ông Toản chuyển nhượng phần đất trên cho người khác và yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với ông Toản.
1
* Bị đơn ông Trần Văn Toản trình bày:
Do có nhu cầu chuyển nhượng nhà đất tại thửa đất số 229, tờ bản đồ số 23, địa chỉ số 13 tổ 9 Tháp Bà, phường Vĩnh Phước, Nha Trang, Khánh Hoà, ông có đăng thông tin lên mạng xã hội, bà Nguyễn Thị Hoàng My là người môi giới đã liên hệ và giới thiệu bà Phạm Thị Bích Thuỷ là người có nguyện vọng nhận chuyển nhượng nhà đất trên cho ông. Ông đã cho bà Thuỷ xem bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao một bản photo của tài liệu này cho bà Thuỷ. Khi gặp nhau lầu đầu (ông không nhớ rõ ngày), bà Thuỷ có đưa trước cho ông 10 triệu đồng, ông bà có viết giấy tay về nội dung này. Đến ngày 11/5/2023, ông và bà Phạm Thị Bích Thuỷ có ký hợp đồng đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng (bà Thuỷ đưa thêm số tiền 190.000.000 đồng, cộng với số tiền 10.000.000 đồng đã đưa cho ông trước đó) để đảm bảo cho việc chuyển nhượng nhà đất nêu trên. Theo đó hai bên thoả thuận giá chuyển nhượng là 3.800.000.000 đồng, thời hạn đặt cọc: 30 ngày kể từ ngày 11/5 (tức đến ngày 10/6/2023), hai bên sẽ cùng nhau làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi thủ tục công chứng hoàn tất, bên B (bà Thuỷ) phải giao đủ số tiền còn lại cho bên A (ông Toản) số tiền 3.600.000.000 đồng. Đến ngày 04/6/2023, bà Thuỷ thông báo cho ông chưa xoay kịp tiền nên xin gia hạn thời hạn đặt cọc, ông cũng đồng ý gia hạn đến hết 24 giờ ngày 11/7/2023, vì thế các bên viết thêm hợp đồng đặt cọc đề ngày 04/6/2023. Ngày 11/7/2023, bà Thủy đề nghị ông đến Văn phòng công chứng Hoàng Long ở thành phố Nha Trang để thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, sau khi ông bà đã ký vào hợp đồng chuyển nhượng, bà Thủy yêu cầu hợp đồng phải công chứng xong và nộp hồ sơ đến Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Nha Trang thì bà Thủy mới chịu chuyển đủ số tiền còn lại, ông không đồng ý, vì thế nên các bên chưa thực hiện được việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Ngày 12/7/2023, ông gửi thông báo cho bà Thủy với nội dung nếu sau 17 giờ ngày 12/7/2023 mà bà không thực hiện theo nội dung hợp đồng đặt cọc đã ký kết thì xem như là đã vi phạm hợp đồng, tự ý từ bỏ việc mua bán căn nhà trên, đồng thời bà không có quyền nhận lại tiền cọc. Bà Thủy có phản hồi cho ông đề nghị được lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông để đi vay ngân hàng lấy tiền ký kết hợp đồng với ông nhưng ông không đồng ý.
2
Nay bà Thủy khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc và yêu cầu ông phải trả cho bà số tiền 200.000.000 đồng, ông chỉ đồng ý một phần yêu cầu khởi kiện hủy hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 và 04/6/2023. Ông không đồng ý trả số tiền 200.000.000 đồng vì đã hết thời hạn đặt cọc, ông đã nhiều lần thông báo, thiện chí thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhưng bà Thủy kì kèo không chuyển đủ tiền. Vì thế việc không thực hiện được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn do lỗi của bà Thủy, bà Thủy phải chịu mất cọc theo hợp đồng đã ký kết.
Tại phiên tòa, bị đơn cung cấp 1 USB hiệu Lexar 64GB màu đen chứa dữ liệu điện tử và vẫn giữ ý kiến như tại các buổi làm việc, các phiên hòa giải tại Tòa án, không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người làm chứng bà Nguyễn Thị Hoàng My trình bày:
Ngày 31/3/2022 bà được Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hoà cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản số KH-01023. Qua kênh Youtube, bà Phạm Thị Bích Thuỷ có thông tin của bà. Do có nhu cầu nhận chuyển nhượng bất động sản, bà Thủy nhờ bà đưa đi xem một vài ngôi nhà tại Nha Trang. Sáng ngày 10/5/2023, bà có đưa bà Thuỷ đến nhà của ông Trần Văn Toản ở số 13 tổ 9 Tháp Bà, phường Vĩnh Phước, Nha Trang. Sau khi thoả thuận được giá, đến tối cùng ngày bà Thuỷ đồng ý đặt cọc 10.000.000 đồng. Ngày 11/5/2023, bà, bà Thuỷ và ông Toản đến Văn phòng công chứng Nguyễn Công Khánh tại địa chỉ số 2A Quang Trung, thành phố Nha Trang để ký hợp đồng đặt cọc tuy nhiên do ông Toản thiếu giấy chứng nhận độc thân nên các ông bà thoả thuận viết hợp đồng tay ngay tại văn phòng công chứng, tại đây bà Thuỷ giao cho ông Toản thêm 190.000.000 đồng tiền cọc. Các bên thoả thuận đến ngày 10/6/2023 sẽ cùng nhau làm thủ tục công chứng, chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khi thủ tục công chứng hoàn tất, bên B (bà Thuỷ) phải giao đủ số tiền còn lại cho bên A (ông Toản) số tiền 3.600.000.000 đồng.
3
Việc thoả thuận đặt cọc, chuyển nhượng hoàn toàn do sự tự nguyện của các bên, không bị ai ép buộc. Khi ký hợp đồng đặt cọc cả 3 bên đều đã đọc kỹ và hiểu rõ nội dung hợp đồng. Đến ngày 04/6/2023, bà Thuỷ xin gia hạn thời hạn đặt cọc, ông Toản đồng ý nên 3 bên có lập hợp đồng đặt cọc lần 2 với nội dung gia hạn thời hạn đặt cọc đến hết 24 giờ ngày 11/7/2023. Ngày 07/7/2023, bà có nhắn tin cho bà Thuỷ thông báo thời gian, địa điểm để ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng đến thời điểm đó, bà Thuỷ mới nói cho bà là muốn vay ngân hàng, phía ông Toản không đồng ý. Ngày 10/7/2023, bà Thuỷ có nhắn cho ông Toản đề nghị xác minh một số giấy tờ. Ngày 11/7/2023 Văn phòng công chứng Hoàng Long xác nhận đã nhận đầy đủ hồ sơ và ông Toản được chuyển nhượng nhà đất nêu trên nên Văn phòng tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng cho hai bên. Sau khi hai bên đã ký vào hợp đồng, ông Toản yêu cầu bà Thuỷ chuyển đủ tiền để hoàn tất thủ tục công chứng thì bà Thuỷ không chịu và nói: Phải lên nộp các giấy tờ như bà Thuỷ yêu cầu thì mới chuyển đủ tiền, phía ông Toản không đồng ý. Ngày 12/7/2023, bà được thông tin bà Thuỷ và ông Toản sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng Hoàng Long nên bà và ông Toản có đến văn phòng công chứng chờ bà Thuỷ đến hết giờ làm việc (lúc 17 giờ) tuy nhiên không thấy bà Thuỷ đến. Các ngày 11 và 12/7/2023, ông Toản đã liên hệ Thừa phát lại Nha Trang để lập vi bằng ghi lại toàn bộ diễn biến sự việc 2 ngày trên.
Các hợp đồng đặt cọc ngày 11/5 và 04/6/2023 đều do bà viết, 3 bên đều giữ 01 bản có nội dung như nhau và tính pháp lý ngang nhau, các nội dung bà viết đều đã được thống nhất. Còn việc viết thêm nội dung hợp đồng thì bà không chịu trách nhiệm.
Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích Thủy về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Văn Toản phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- Các hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 và 04/6/2023 ký kết giữa bà Phạm Thị Bích Thủy và ông Trần Văn Toản có hiệu lực và buộc các bên phải thực hiện.
- Nguyên đơn bà Phạm Thị Bích Thủy phải chịu mất toàn bộ số tiền cọc đã giao cho ông Trần Văn Toản là 200.000.000 đồng.
4
Ông Trần Văn Toản được toàn quyền sở hữu số tiền cọc đã nhận của bà Phạm Thị Bích Thủy theo hợp đồng đặt cọc là 200.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quy định chung và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 18/7/2024, bà Phạm Thị Bích Thủy kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn cho rằng bản án sơ thẩm giải quyết không khách quan nên kháng cáo toàn bộ bản án theo hướng sửa bản án sơ thẩm buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 200.000.000đồng tiền đặt cọc vì bị đơn không thực hiện đúng hợp đồng đặt cọc là phải ký chuyển nhượng xong thì bà Thủy mới giao tiền. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- - Bị đơn cho rằng trong quá trình ký hợp đồng đặt cọc thì nguyên đơn đã xin gia hạn nhiều lần, bị đơn đã đồng ý ký lại hợp đồng đặt cọc lần hai nhưng nguyên đơn vẫn không có thiện chí để ký hợp đồng chuyển nhượng và hẹn nhiều lần, xin gia hạn. Đồng thời, ngày 11/7/2023 hai bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng xong nhưng bà Thủy vẫn không giao tiền nên không thể đóng dấu công chứng được. Bà Thủy ghi thêm vào nội dung của hợp đồng và cho rằng chưa đến hạn giao tiền là không đúng. Do đó, lỗi hợp đồng không thể thực hiện được là do bà Thủy nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- - Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Qua xem xét tài liệu chứng cứ và diễn biến tại phiên tòa cho thấy việc bị đơn đã gia hạn thời hạn ký hợp đồng chuyển nhượng để nguyên đơn có thời gian chuẩn bị tiền. Điều này chứng minh qua việc bị đơn đồng ý ký lại hợp đồng đặt cọc lần hai. Tuy nhiên, ngày 11/7/2023 sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng nguyên đơn vẫn không đồng ý giao tiền để đóng dấu công chứng hợp đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 16/07/2024, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử vụ án. Ngày 18/7/2024, bị đơn kháng cáo bản án. Vậy đơn kháng cáo của bà Thủy trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
5
[2] Hội đồng xét xử xét:
[2.1] Xét hiệu lực hợp đồng đặt cọc: Theo Hợp đồng đặt cọc được ký kết ngày 11/05/2023 (gọi tắt: hợp đồng thứ nhất) và 04/6/2023 (gọi tắt: hợp đồng thứ 2) giữa ông Trần Văn Toản với bà Phạm Thị Bích Thủy. Theo Điều 1 và Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc hai bên thỏa thuận ông Toản chuyển nhượng cho bà Thủy nhà, đất tại thửa 229, tờ bản đồ 23, diện tích 95,5m² (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Toản) tại số 13, tổ 09 Tháp Bà, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Giá chuyển nhượng 3.800.000.000đồng. Bà Thủy đặt cọc 200.000.000đồng. Tại Điều 3 của hợp đồng thứ nhất quy định thời hạn bà Thủy đặt cọc cho ông Toản kể từ ngày 11/5/2023 đến hết ngày 10/6/2023. Ông Toản nhận đủ tiền cọc sẽ cùng với bà Thủy làm thủ tục công chứng chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và giao đủ số tiền còn lại. Tuy nhiên, ngày 04/6/2023, ông Toản và bà Thủy thỏa thuận ký kết lại hợp đồng đặt cọc thứ hai gia hạn thời hạn đặt cọc kể từ ngày 04/6/2023 đến hết ngày 11/7/2023. Về nội dung hợp đồng đặt cọc thứ 2 thay thế hợp đồng thứ nhất bổ sung nội dung “Bên bà Thủy đến ngày 11/7/2023 không đến công chứng thì mất cọc 200.000.000đồng, không thương lượng thêm thời gian và không kiện tụng. Khi đến phòng công chứng mua bán bên bà Thủy phải giao hết tiền cho bên ông Toản và bà Thủy sẽ giữ lại 200.000.000đồng đến khi ông Toản giao sổ thì giao lại cho ông Toản 200.000.000đồng...”. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều thừa nhận tự nguyện ký kết hợp đồng đặt cọc, không bị ép buộc hay lừa dối. Như vậy, nội dung hợp đồng xác định mục đích đặt cọc nhằm chuyển nhượng đất, tài sản trên đất và tự nguyện thỏa thuận nghĩa vụ của các bên phù hợp với quy định pháp luật nên hợp đồng có hiệu lực và buộc các bên phải thực hiện.
[2.2] Xét việc thực hiện và gia hạn thời hạn hợp đồng đặt cọc: Theo Hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 (bút lục 27) cho thấy bà Thủy đã giao đủ tiền đặt cọc cho ông Toản 200.000.000đồng. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án hai bên đều thừa nhận bà Thủy đã giao đủ tiền cọc cho ông Toản. Tuy nhiên, quá trình thực hiện cam kết của hợp đồng đặt cọc thứ nhất bà Thủy đã không có đủ tiền ký hợp đồng chuyển nhượng nên thỏa thuận ký lại hợp đồng đặt cọc để kéo dài thời hạn việc ký chuyển nhượng đến ngày 11/7/2023. Điều này thể hiện qua các tin nhắn giữa bà Thủy và ông Toản (bút lục từ 68 đến 76). Do đó, việc gia hạn thời hạn ký chuyển nhượng là hoàn toàn tự nguyện và được các bên đồng ý nên được thực hiện theo thỏa thuận của hợp đồng.
[2.3] Xét việc thực hiện các cam kết của hợp đồng đặt cọc: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn căn cứ vào Điều 3 của Hợp đồng đặt cọc quy định: “...khi thủ tục công chứng hoàn tất, bà Thủy phải giao đủ số tiền còn lại cho ông Toản...” Đồng thời, bà Thủy căn cứ vào hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 (bản gốc bút lục 27) tại Điều 5 phần cam kết chung (viết tay) có nội dung “Hồ sơ nộp được tiếp nhận và trả kết quả đủ điều kiện chuyển nhượng là chuyển tiền”. Căn cứ vào các cam kết này, bà Thủy cho rằng đây là sự thỏa thuận của các bên, ông Toản yêu cầu bà giao đủ tiền tại Văn phòng công chứng Hoàng Long ngày 11/7/2023 là không đúng thỏa thuận. Vì vậy, bà Thủy cho rằng ông Toản vi phạm cam kết của hợp đồng và hai bên không ký kết được hợp đồng chuyển nhượng là do lỗi của ông Toản nên ông Toản phải trả lại cho bà 200.000.000đồng. Ngược lại, bị đơn cho rằng theo cam kết của hợp đồng, bà Thủy phải giao đủ tiền thì công chứng viên ký công chứng và đóng dấu hợp đồng chuyển nhượng.
6
Hội đồng xét xử thấy rằng tại Điều 3 của Hợp đồng đặt cọc quy định: “...khi thủ tục công chứng hoàn tất, bà Thủy phải giao đủ số tiền còn lại cho ông Toản...”. Tuy nhiên, tại Điều 4 của hợp đồng đặt cọc lần 2 ngày 04/6/2023 tại mục thỏa thuận khác thể hiện hai bên thỏa thuận chi tiết thời điểm giao tiền ký chuyển nhượng (sau khi đồng ý cho bà Thủy gia hạn) cụ thể: “….……. Khi đến phòng công chứng mua bán, bên bà Thủy phải giao hết tiền cho bên ông Toản và bà Thủy sẽ giữ lại 200.000.000đồng đến khi ông Toản giao sổ hồng thì giao lại cho ông Toản 200.000.000đồng...”. Do đó, bà Thủy cho rằng ông Toản yêu cầu bà phải giao đủ tiền tại Văn phòng công chứng Hoàng Long vào ngày 11/7/2023 là vi phạm hợp đồng là không có có sở chấp nhận.
Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm bà Thủy xác định hồ sơ khởi kiện nguyên đơn nộp ngày 14/7/2023 có kèm theo Hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 do bà Thủy photo từ bản gốc (bút lục 10) không thể hiện nội dung phần cam kết chung (viết tay) tại Điều 5 có dòng chữ “……….Hồ sơ nộp được tiếp nhận và trả kết quả đủ điều kiện chuyển nhượng là chuyển tiền...”. Ông Toản không thừa nhận có thỏa thuận nội dung này trong hợp đồng. Vậy nội dung viết tay này trong bản gốc của hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 xuất hiện sau khi bà Thủy nộp hồ sơ khởi kiện. Đồng thời, Hợp đồng đặt cọc ngày 11/5/2023 bản gốc (bl 79, 116) do ông Toản nộp cho Tòa án cho thấy tại thời điểm thỏa thuận ký đặt cọc không có nội dung thỏa thuận này. Do đó, có cơ sở xác định phần nội dung như nêu trên được bà Thủy tự ý ghi thêm vào hợp đồng đặt cọc sau khi nộp hồ sơ khởi kiện tại tòa án. Vì vậy, bà Thủy căn cứ vào nội dung ghi thêm của bà trong hợp đồng và không được ông Toản đồng ý để cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc là không có cơ sở.
Xét lỗi: Theo phân tích trên, bà Thủy tự ý ghi thêm nội dung vào hợp đồng đặt cọc mà không được sự đồng ý của bên bị đơn. Đồng thời, theo hợp đồng đặt cọc được ký kết lại ngày 04/6/2023 gia hạn thời hạn ký chuyển nhượng cũng thể hiện nội dung “...Khi đến phòng công chứng mua bán bên bà Thủy phải giao hết tiền cho bên ông Toản...”. Do đó, ngày 11/7/2023 tại Văn phòng công chứng Hoàng Long, bà Thủy không giao đủ số tiền còn lại theo cam kết là vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng và lỗi hoàn toàn thuộc về bà Thủy nên phải chịu mất cọc theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
7
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích Thủy, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích Thủy về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Văn Toản trả lại cho nguyên đơn số tiền cọc 200.000.000đồng (Hai trăm triệu đồng).
* Về án phí:
Bà Phạm Thị Bích Thủy phải chịu 10.000.000đồng (Mười triệu) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2022/0001700 ngày 24/11/2023 và 0006056 ngày 07/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Thủy còn phải nộp 5.000.000đồng (Năm triệu).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Đình Phương |
8
9
Bản án số 118/2024/DS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 118/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
