|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 118/2023/HS-ST Ngày: 28 - 8 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân
Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Huy Viện
Bà Hoàng Thị Hường
Bà Bùi Thị Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2023/TLST-HS ngày 26/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đức D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 11 năm 1982, tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Đức Y (đã chết) và bà Thái Thị H, sinh năm 1952; Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Đặng Thị T, sinh năm 1985 (Đã ly hôn); Con có 01 (một) người, sinh năm 2010.
Nhân thân:
- - Ngày 07/7/2008, bị Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản”, đã nộp phạt ngày 17/7/2008;
- - Ngày 13/11/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 399/2014/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/4/2016, đã được xóa án tích.
- - Ngày 14/6/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo Bản án HSST số 205/2018/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/4/2020, đã được xóa án tích.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo Nguyễn Đức D bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 15/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.Có mặt.
2. Họ và tên: Lô Ngọc C; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1971, tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT: Khối H, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 2/12; Con ông: Lô Anh T1 (đã chết) và bà Vi Thị M (đã chết); Anh chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Quang Thị H1, sinh năm 1971; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1995.
Nhân thân:
- - Ngày 30/3/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Hiếp dâm” theo Bản án số: 11/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 09/5/2001, đã được xóa án tích.
- - Ngày 27/5/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo Bản án số: 23/2010HSST.
- - Ngày 17/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại Bản án số: 23/2010HSST ngày 27/5/2010. Buộc phải chấp hành hình phạt chung của 2 Bản án là 08 năm 6 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/4/2017, đã được xóa án tích.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lê Ngọc C1 bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 15/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N.Có mặt.
- + Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức D, bị cáo Lê Ngọc C1: Luật sư Nguyễn Thị T2, Văn phòng L- Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Quang Thị H1, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khối H, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 15/02/2023, tại Quốc lộ A, thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N phối hợp các lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra xe ô tô khách “Sao Nghệ”, biển kiểm soát 37F - 002.45 lưu thông hướng V - Hà Nội. Qua kiểm tra Nguyễn Đức D (Sinh năm 1982, trú tại: Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An) đang nằm tại giường số 11, tầng 2; phát hiện trong ngăn túi đeo chéo màu đen mà D đang đeo trên người có 01 bánh hình khối chữ nhật (Nghi là ma túy heroine) nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Nguyễn Đức D làm nghề buôn bán bia ở địa bàn thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An, tại đây D quen biết và có tình cảm với Lô Thị N (Sinh năm 1975, trú tại: thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An). Nguyễn Đức D thường xuyên ở lại nhà N cho nên D quen biết với Lô Ngọc C.
Ngày 07/02/2023, Nguyễn Đức D nhận điện thoại của bạn có tên là H2 số điện thoại 0982.977.xxx, người Hà Nội. Theo D khai, H2 là bạn cùng chấp hành án tại Trại giam số 6 - Bộ C3 vào năm 2018. Quá trình nói chuyện, H2 đặt vấn đề nhờ D mua hộ 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng tiền ma túy Heroine đưa ra Hà Nội, sẽ trả công 10.000.000 (Mười triệu) đồng. D đồng ý nên trong ngày hôm đó H2 đã gửi tiền qua xe khách chạy tuyến Hà Nội - V cho D. Nguyễn Đức D đi từ huyện Q về và nhận tiền từ nhân viên nhà xe tại bến xe mới V sau đó quay lại huyện Q.
Đến chiều ngày 11/02/2023, khi Nguyễn Đức D đang ở nhà Lô Thị N thì gặp Lô Ngọc C. D đặt vấn đề nhờ C mua hộ 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng tiền ma túy heroine. C đồng ý, D đưa toàn bộ số tiền cho C đi mua ma túy.
Vào ngày 13/02/2023, Lô Ngọc C điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 37F1-176.30 đến khu vực đồi núi thuộc bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp người đàn ông tên D1, dân tộc Mông, khoảng 45 tuổi (Không biết họ tên, lai lịch cụ thể) hỏi mua 01 (Một) bánh ma túy heroine. Sau khi thỏa thuận giá cả, D1 đồng ý bán 01 (Một) bánh ma túy heroine với giá 110.000.000 (Một trăm mười triệu) đồng. C đã trả 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng và nợ lại 10.000.000 (Mười triệu) đồng hứa sẽ trả sau.
Khoảng 14 giờ ngày 14/02/2023, Lô Ngọc C điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 37F1-176.30 đến quán tạp hóa nhà Lô Thị N. Lô Ngọc C đi thẳng xe máy vào trong sân rồi mở cốp xe, D đi từ trong nhà ra cổng nhìn không thấy ai ở ngoài nên quay lại lấy gói ni lông màu đỏ đựng ma túy từ trong cốp xe của C đi vào trong nhà cất dấu vào túi đeo chéo. Sau khi Nguyễn Đức D lấy được ma túy, C nói với D: “còn thiếu 10 triệu, khi nào bán được thì trả và cho thêm vài triệu nữa” thì D đồng ý.
Khoảng 16 giờ cùng ngày Nguyễn Đức D gọi xe taxi mang theo bánh ma túy heroine đi về thành phố V. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, Nguyễn Đức D lấy túi đeo chéo trong đó có bánh ma túy heroine rồi đi xe khách “Sao Nghệ” đưa ma túy ra Hà Nội giao cho H2; vào lúc 11 giờ 30 phút cùng ngày khi đến khu vực thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang như đã nêu.
Mở rộng điều tra, ngày 16/02/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lô Ngọc C; thu giữ 60.000.000 (Sáu mươi triệu đồng), là tiền C mang theo đi mua đá để kinh doanh.
Quá trình điều tra Nguyễn Đức D, Lô Ngọc C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số: 195/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 20/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức D gửi tới giám định là ma tuý (Heroine). Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức D có khối lượng là 350,52g (Ba trăm năm mươi phẩy năm mươi hai gam)".
Vật chứng vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thu giữ:
- - 350,52g ma túy heroine của Nguyễn Đức D, lấy mẫu giám định 37,66g còn lại 312,86g.
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của Nguyễn Đức D.
- - 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 37F1-176.30 của Lô Ngọc C.
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A03S màu đen; 01 (Một) điện thoại di động MASSTEL, màu đen của Lô Ngọc C.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.
Số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu) đồng thu giữ của Lô Ngọc C hiện được bảo quản tại Kho bạc nhà nước tỉnh N, theo Biên bản giao nhận tài sản số: 28/2023/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 03/4/2023 để đảm bảo việc thi hành án.
Bản cáo trạng số 123 /CT-VKS-P1 ngày 21tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đức D và Lô Ngọc C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 58 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/02/2023
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/02/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 47, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy. Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của Nguyễn Đức D. Trả lại bị cáo Lô Ngọc C 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A03S màu đen; 01 (Một) điện thoại di động MASSTEL, màu đen của Lô Ngọc C.
Đối với số tiền 60.000.000 đồng và và 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 37F1-176.30 của Lô Ngọc C là tài sản chung của vợ chồng, nguồn gốc tài sản là do con trai gửi về nên cần trả lại cho vợ bị cáo Lô Ngọc C là chị Quang Thị H1
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo không tranh luận về tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo là người trung gian trong vụ án, chưa thu lợi bất chính để xử phạt các bị cáo mức hình phạt thấp hơn kiểm sát viên đã đề nghị.
Các bị cáo nhất trí như lời bào chữa của luật sư đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Quang Thị H1 trình bày: Số tiền 60.000.000 đồng và chiếc xe máy là tiền do con trai gửi về, chị H1 không biết anh C dùng tiền và xe máy để đi mua ma túy. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy và 60.000.000 đồng cho gia đình chị Quang Thị H1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng qui định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức D và bị cáo Lô Ngọc C tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 07/02/2023, Nguyễn Đức D được một người tên H2 ở Hà Nội không rõ lai lịch, địa chỉ gửi số tiền 100.000.000 đồng để đặt mua 01 bánh ma túy Heroine sẽ trả tiền công cho D 10.000.000 đồng. Ngày 11/02/2023, Nguyễn Đức D đưa cho Lô Ngọc C 100.000.000 đồng để mua 01 bánh Heroine. Ngày 13/02/2023, Lô Ngọc C đã mua được 01 bánh Heroine của người đàn ông tên D1, dân tộc Mông (Không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 110.000.000 đồng rồi giao cho Nguyễn Đức D.
Ngày 15/02/2023, Nguyễn Đức D đi xe khách “Sao Nghệ” biển kiểm soát 37F - 002.45 mang 01 bánh ma túy Heroine khối lượng 350,52 gam đi ra Hà Nội giao cho H2; Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu vực thuộc xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bánh ma túy Heroine.Nguyễn Đức D, Lô Ngọc C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 01 bánh ma túy (Heroine) có khối lượng 350,52 gam.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Nguyễn Đức D và Lô Ngọc C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong quá trình quyết định hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[4] Về tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo không những gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội, nguyên nhân sâu xa làm phát sinh các tội phạm khác mà còn làm suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Các bị cáo nhiều lần bị Tòa án xét xử, không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà vẫn phạm tội nhằm mục đích vụ lợi. Vụ án xảy ra có tính chất đồng phạm, tuy nhiên đồng phạm chỉ mang tính giản đơn, không có tính tổ chức, cấu kết chặt chẽ với nhau. Bị cáo Nguyễn Đức D là người khởi xướng, trực tiếp giao dịch với người mua ma túy, thống nhất về thời gian, địa điểm giao hàng đồng thời kết nối với Lô Ngọc C để tìm nguồn ma túy, sau đó mang ma túy đi giao cho người mua. Bị cáo Lô Ngọc C là người thực hành tích cực, tìm nguồn ma túy để cung cấp cho Nguyễn Đức D, nên phải chịu trách nhiệm ngang nhau trong vụ án. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo chưa thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy, gia đình hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản gì có giá trị, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- + Ma túy là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy 01 hộp cát tông được niêm phong dán kín, bên trong chứa 312,86gam Heroine và 01 tui đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng
- + Đối với số tiền 60.000.000 đồng và và 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 37F1-176.30 của Lô Ngọc C là tài sản chung của gia đình bị cáo, nguồn tiền do con trai của bị cáo gửi về mua, vợ của bị cáo không biết việc bị cáo sử dụng xe máy để thực hiện hành vi mua bán ma túy, hơn nữa xe máy là phương tiện sử dụng chung của gia đình bị cáo. Do đó, cần trả lại cho chị Quang Thị H1 số tiền 60.000.000 đồng và chiếc xe máy.
- + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của Nguyễn Đức D dùng để liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A03S màu đen; 01 (Một) điện thoại di động MASSTEL, màu đen của Lô Ngọc C không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo C2.
[7] Đối với người đàn ông tên H2 sử dụng số điện thoại 0982.977.xxx, theo Nguyễn Đức D khai đã gửi tiền nhờ D mua ma túy. Hai người quen biết nhau trong quá trình chấp hành án phạt tù tại Trại giam S - Bộ C3. D không biết họ, tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của H2. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín số điện thoại 0982.977.xxx, xác định chủ thuê bao là Đào Mạnh H3 (sinh năm 1990, trú tại: xóm C, thôn P, xã S, huyện Q, TP Hà Nội). Tiến hành cho bị can Nguyễn Đức D nhận dạng qua ảnh, D khẳng định không phải là bạn tên H3 gửi tiền mua ma túy. Mặt khác, Cơ quan điều tra đã yêu cầu Trại giam S - Bộ C3 xác minh theo thông tin D cung cấp về H3 nhưng không xác định được. Xác minh theo lai lịch của Đào Mạnh H3, kết quả H3 chưa từng chấp hành án phạt tù tại Trại giam S. Tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú của Đào Mạnh H3, tuy nhiên H3 không có mặt tại địa phương. Với tài liệu chứng cứ thu thập được chưa đủ căn cứ để xác định Đào Mạnh H3 là người gửi tiền cho D mua ma túy, vì vậy không có căn cứ để xử lý Đào Mạnh H3 trong vụ án.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông tên D1, theo lời khai của bị can Lô Ngọc C là người bán ma túy, C không biết lai lịch, số điện thoại của người này. C trực tiếp đi một mình lên đồi gặp mua ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý trong vụ án.
Đối với Lô Thị N (Sinh năm 1975, trú tại: thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An), theo lời khai của các bị can Nguyễn Đức D và Lô Ngọc C thì N không biết và không liên quan gì đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị can, không có tài liệu chứng cứ xác định N liên quan đến vụ án, vì vậy không có căn cứ xử lý Lô Thị N.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Đức D 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 02 năm 2023.
- - Bị cáo Nguyễn Đức D 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 02 năm 2023.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo Nguyễn Đức D và Lô Ngọc C
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự;
- + Tịch thu tiêu hủy 01 hộp cát tông được niêm phong dán kín, bên trong chứa 312,86gam Heroine và 01 tui đeo chéo màu đen, đã qua sử dụng
- + Trả lại cho chị Quang Thị H1 01 (Một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA JUPITER, biển kiểm soát 37F1-176.30.
- + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen của Nguyễn Đức D
- + Trả lại cho bị cáo Lô Ngọc C 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A03S màu đen; 01 (Một) điện thoại di động MASSTEL, màu đen của Lô Ngọc C.
(Chi tiết đặc điểm có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 7 năm 2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An).
- + Trả lại cho chị Quang Thị H1 số tiền 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng thu giữ từ bị cáo Lô Ngọc C.
(Chi tiết có tại Biên bản giao nhận tài sản số: 28/2023/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 03/4/2023, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh N và Kho bạc nhà nước N).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Đức D và Lô Ngọc C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo Nguyễn Đức D và Lô Ngọc C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Quang Thị H1 có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Thái Thị Hồng Vân |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 118/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 118/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức D "Mua bán trái phép chất ma túy"
