Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 112/2023/HNGĐ-ST

Ngày 27 tháng 12 năm 2023

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Luân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Hiền và bà Nguyễn Thị Thêu

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 153/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:Chị Hoàng Thị Lan P, sinh năm 1989; Nơi cư trú : Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Hiện đang cư trú và lao động tại Nhật Bản. (Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn:Anh Đoàn Văn L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ liên hệ: Biệt thự E1, khu A, KĐT N, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. (Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Hoàng Thị Lan P trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đoàn Văn L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 26/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống với nhau rất hòa thuận và hạnh phúc, nhưng sau khi chị đi lao động tại Nhật Bản, thì giữa vợ chồng anh đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm sống nên đã ly thân với nhau, đồng thời anh chị cũng không liên lạc gì với nhau và không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

- Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Đoàn Tấn P1, sinh ngày 27/12/2013, hiện đang ở với anh L. Ly hôn chị đề nghị xin nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải có đóng tiền cấp dưỡng tiền nuôi con

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai và đơn xin vắng mặt, anh Đoàn Văn L trình bày:

Anh và chị P tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn đăng ký kết hôn ngày 26/10/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống được 9 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không còn hòa hợp về tính cách và tình cảm. Anh chị đã ly thân tứ tháng 6/2021 cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị P xin ly hôn, anh cũng đồng ý. Anh chị có một con chung là Đoàn Tấn P1, sinh ngày 27/12/2013. Anh nhất trí giao con chung cho chị P nuôi dưỡng như nguyện vọng của chị P. Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị Lan P và anh Đoàn Văn L đều cư trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Chị P hiện đang cư trú, lao động ở Nhật Bản nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình theo khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh L1, chị P đều đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L1 chị P theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:Việc kết hôn giữa anh Đoàn Văn L và chị Hoàng Thị Lan P đã được đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 26/10/2012 là hôn nhân hợp pháp. Anh chị đều xác nhận cuộc sống hôn nhân của anh chị có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và đã ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị P xin ly hôn, anh L cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận cho chị P ly hôn anh L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Anh chị có một con chung là Đoàn Tấn P1, sinh ngày 27/12/2013. Anh chị đều thống nhất giao con chung cho chị P nuôi dưỡng, do chị P đang ở nước ngoài nên đã có văn bản ủy quyền cho mẹ đẻ chị P là bà Bùi Thị K tạm thời chăm sóc cháu Đoàn Tấn P1, anh L cũng nhất chí với đề nghị của chị P và bà K, các bên không yêu cầu cấp dưỡng. Xét đề nghị của chị P, anh L là tự nguyện và hợp pháp, bảo đảm các quyền, lợi ích và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: chị P anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

[2.4] Về án phí: chị P phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 37, Điều 39, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 147, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Lan P được ly hôn anh Đoàn Văn L
  2. Về con chung: Xử giao con chung Đoàn Tấn P1, sinh ngày 27/12/2013 cho chị Hoàng Thị Lan P nuôi dưỡng, chị P không yêu cầu anh L phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh Đoàn Văn L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng theo quy định.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: chị Hoàng Thị Lan P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng chị P đã nộp tại biên lai số 0005716 ngày 28/8/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình, chị P đã nộp xong tiền án phí ly hôn sơ thẩm .
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Đoàn Văn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Chị Hoàng Thị Lan P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Duy Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 112/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Hoàng Thị L - Nguyễn Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger