Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Bản án số: 118/2023/HS-ST.

Ngày: 05 - 12 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC,

TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Khanh

Bà Ngô Thị Quốc Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Cù Hoàng Vũ- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn H

sinh năm: 1988 tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1, sinh năm: 1963 và bà Trần Thị Thu C, sinh năm: 1968; vợ: Không; có 02 người con, con lớn không rõ năm sinh, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 04/8/2023 UBND xã P, huyện X ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 161/QĐ-XPHC về hành vi “xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” đối với Trần Văn H, số tiền là 2.500.000 đồng, Trần Văn H đã nộp phạt

Bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1982 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm: 1999 (có mặt)
  • Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • + Bà Trần Thị Yến N1, sinh năm: 2002 (có mặt)
  • Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây Trần Văn H là bạn trai của chị Trần Thị Yến N1 con gái bị hại bà Phạm Thị L, giữa H và chị N1 có 01 con chung là cháu Trần Bảo An N2, nhưng không đăng ký kết hôn và đã chia tay. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/01/2023, Trần Văn H điều khiển xe mô biển số 58-P3.108.79, đi qua nhà bà Phạm Thị L thấy Trần Thị Tuyết N là chị gái N1 đang đứng trước nhà, lúc này có cháu An N2 ở gần đó. H nói “Bí lớn lên đi ba cho tiền, giờ ba cho người ta cũng xài hết", N nói lại “nhà tao không cần tiền của mày”, thì H và N xảy ra cữ cãi, H nhặt đá ném N nhưng không trúng. Lúc này, bà Phạm Thị L là mẹ của N và N1, chạy ra xô xát với H, thì được mọi người can ngăn H điều khiển xe đi về, khi đi qua sân bóng tại ấp T, xã P, huyện X, H thấy 01 dao tự chế, dài khoảng 59 cm, H lấy dao quay lại nhà bà L, tới đây H đi vào bên hông nhà, thấy vậy bà L nhặt 01 khúc gỗ điều dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 05cm, để phòng vệ. H dùng dao chém trúng khúc gỗ điều, làm khúc gỗ điều văng ra, thì H không chém bà L nữa, mà cầm 02 tay vào dao tự chế, ép bà L vào tường. Bà L dùng tay phải cầm vào lưỡi dao, H tiếp tục ép bà L đi lùi lại đến sát tường, thì lưỡi dao cắt trúng vùng dưới cằm bà L gây thương tích. Lúc này, anh Phạm Thanh T và anh Nguyễn Thành D chạy qua can ngăn H dừng lại, điều khiển xe mô tô đi về, trên đường về H lấy 01 cây dao thái rau, quay lại nhà bà L, H đi vào dùng tay đấm vào cửa sổ thì bị kính cắt đứt tay, nên H bỏ về. Đến ngày 26/01/2023, bà L có đơn yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Trần Văn H.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y, Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị L tại thời điểm giám định là: 02% (hai phần trăm).

Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, Trần Văn H khai nhận hành vi của mình như trên.

Vật chứng thu giữ: Đối với 01 con dao tự chế có dài 59cm; cán dao dài 15 cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, lưỡi dao rộng 4,5cm hiện Cơ quan CSĐT đang tạm giữ chuyển Chi cục thi hành án dân sự chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phạm Thị L yêu cầu bị cáo Trần Văn H bồi thường chi phí viện phí, tiền thuốc điều trị, tổn thất tinh thần, tiền công lao động là 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà L không cung cấp tài liệu liên quan. Trần Văn H khai báo không có khả năng bồi thường số tiền trên.

Cáo trạng số 109/CT-VKS-XM ngày 27/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Trần Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội chỉ thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc công bố luận tội, phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

+ Về hình phạt:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 10 tháng đến 16 tháng tù giam.

+ Về vật chứng: 01 con dao tự chế có dài 59cm; cán dao dài 15 cm; lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, lưỡi dao rộng 4,5cm là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại bà Phạm Thị L yêu cầu bị cáo Trần Văn H bồi thường chi phí viện phí, tiền thuốc điều trị, tổn thất tinh thần, tiền công lao động là 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, bà L không cung cấp tài liệu liên quan. Tại phiên tòa, bà L không yêu cầu bị cáo Trần Văn H phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, bị cáo đều thành khẩn khai nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc đã truy tố, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng khác có trong hồ sơ vụ án.... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/01/2023, bị cáo Trần Văn H đến nhà bị hại bà Phạm Thị L và xảy ra cãi vả với chị Trần Thị Tuyết N về tiền nuôi dưỡng cháu Trần Bảo An N2 (con gái của H và chị Trần Thị Yến N1) là cháu ngoại của bà L, sau đó giữa H và bà L xảy ra cãi vả, xô sát nhau. Trần Văn H bỏ về và mang theo dao tự chế quay lại nhà bà L dùng dao ép bà L vào chân tường, làm dao cắt vào dưới cằm bà L gây thương tích với tỷ lệ thương tật 02%.

Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Giữa bị cáo H và gia đình bị hại có xảy ra mâu thuẫn nhưng không trầm trọng, bị cáo H đã dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Bị cáo đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi gây thương tích đối với người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Trong quá trình điều tra, truy tố vụ án này, bị cáo H còn tiếp tục có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm chị Trần Thị Yến N1 và bị UBND xã P, huyện X ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 161/QĐ-XPHC về hành vi “xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác” đối với bị cáo H. Do vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là cần thiết và phải được xem xét xử lý nghiêm bằng hình phạt tù mới tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra, cho bị cáo có thời gian sửa chữa sai lầm, cải tạo thành công dân tốt có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội và đây là lần phạm tội đầu tiên của bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về xử lý vật chứng:

01 con dao tự chế dài 59cm, cán dao dài 15 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, lưỡi dao rộng 4,5cm là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại bà Phạm Thị L yêu cầu bị cáo Trần Văn H bồi thường chi phí viện phí, tiền thuốc điều trị, tổn thất tinh thần, tiền công lao động là 20.000.000 đồng, bà L không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu trên. Tuy nhiên tại phiên tòa, bà L không yêu cầu bị cáo Trần Văn H phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí HSST:

Bị cáo Trần Văn H phải nộp án phí không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”
    • + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế dài 59cm, cán dao dài 15 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, lưỡi dao rộng 4,5cm.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 09/BB ngày 02/11/2023 giữa CQCSĐT Công an huyện X và Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc).
  3. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    • Bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Xuyên Mộc;
  • - Công an huyện Xuyên Mộc;
  • - Chi cục THADS huyện Xuyên Mộc;
  • - Uỷ ban nhân dân xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bành Thị Thu Hà

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUYÊN MỘC

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Số: 11/2023/QĐ-SCBSBA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Xuyên Mộc, ngày 26 tháng 12 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN SƠ THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC,

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Căn cứ vào Điều 268 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Xét cần sửa chữa, bổ sung do sai sót trong Bản án số 118/2023/HS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc đã xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Văn Hòa về tội Cố ý gây thương tích.

QUYẾT ĐỊNH:

Sửa chữa, bổ sung Bản án số 118/2023/HS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc như sau:

+ Tại dòng 03 từ dưới lên trang 05 của Bản án ghi: “Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023"

Nay sửa chữa như sau: “Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt để thi hành án".

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc;
  • - Lưu hồ sơ tại Tòa án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bành Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 118/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H dùng dao ép bà L vào chân tường, làm dao cắt vào dưới cằm bà L gây thương tích với tỷ lệ thương tật 02%
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger