|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 118/2021/DS-PT
Ngày: 04/6/2021
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Dương Liêm.
Các Thẩm phán:
- 1. Ông Nguyễn Văn Tông;
- 2. Ông Võ Văn Ngầu.
- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Minh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 tháng 5 và ngày 04 tháng 6 năm 2021, tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 44/2021/TLPT-DS ngày 01 tháng 3 năm 2021 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 81/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1964; cư trú tại: tổ 13, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (Tòa không triệu tập).
* Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị V: ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1960; cư trú tại: 391/16/7D, đường H, khu phố X, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Văn bản ủy quyền ngày 08-02-2020), có mặt.
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; cư trú tại: tổ 01, ấp 01, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; cư trú tại: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
* Người làm chứng: bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1953; cư trú tại: khu phố 1, ấp H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có đơn từ chối tham gia tố tụng).
* Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn Q là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
* Kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 02 năm 2020 của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:
Ngày 30-12-2019, chị Nguyễn Thị N có vay của bà Nguyễn Thị V 1.000.000.000 đồng. Mục đích vay để trả nợ ngân hàng; thỏa thuận lãi suất là 3%/tháng và đóng lãi hàng tháng; thời hạn vay là 24 tháng. Để bảo đảm cho việc trả nợ, chị N lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất, thuộc thửa số 12, tờ bản đồ 113, diện tích 518,2m2 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ CS 017.. do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11/8/2015 do chị Nguyễn Thị N đứng tên sử dụng (bản chính)) và bà V có giữ 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị N (bản gốc). Đồng thời, chị N lập “Tờ cam kết” nếu trong vòng 03 tháng mà không đóng lãi thì bà V có quyền làm thủ tục điều chỉnh biến động nhận chuyển nhượng tài sản quyền sử dụng đất nêu trên.
Căn cứ cho yêu cầu khởi kiện là “Tờ cam kết” ghi ngày 01-01-2020 có chữ ký của chị Nguyễn Thị N và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 30/12/2019.
Nay, bà V khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị N có trách nhiệm trả cho bà V số tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 1,66 %/tháng từ ngày ngày 30-12-2019 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa ngày 23 tháng 10 năm 2020, đại diện nguyên đơn yêu cầu chị Nguyễn Thị H cùng liên đới với chị N trả cho bà V số tiền nợ gốc và lãi nêu trên vì chị H có nhận tiền và sử dụng nguồn tiền vay của bà V.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Nguồn gốc của khoản tiền 1.000.000.000 đồng mà bà V khởi kiện như sau: Ngày 26-11-2019 thông qua người giới thiệu, chị có trực tiếp vay của bà V số tiền 650.000.000 đồng để đáo hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện T. Khi vay có làm giấy vay và chị ký tên nhận nợ 650.000.000 đồng (hiện tại giấy vay tiền 650.000.000 đồng này bà V đang giữ).
Sau khi trả tiền gốc và lãi, xóa đăng ký thế chấp, Ngân hàng Nông nghiệp trả giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất cho chị thì bà V giữ luôn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS017.., diện tích 518,2 m2, thuộc thửa số 12, tờ bản đồ 113, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 11-8-2015 và Chứng minh nhân dân của chị.
Do Ngân hàng không cho vay lại, chị không có tiền trả nên bà V yêu cầu chị ra Văn phòng Công chứng T ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất đã chuyển nhượng nêu trên với giá 1.000.000.000 đồng (bao gồm tiền nợ gốc 650.000.000 đồng, tiền lãi là 100.000.000 đồng, tổng cộng là 750.000.000 đồng) và bà V sẽ đưa thêm 250.000.000 đồng là tròn 01 tỷ đồng. Sau khi ký xong hợp đồng, bà V không đưa thêm 250.000.000 đồng nên chị yêu cầu Văn phòng Công chứng T giữ lại tất cả các bản hợp đồng đã ký và nộp đơn ngăn chặn không cho bà V sang tên chuyển nhượng; đồng thời, chị đã lấy lại bản chính của hợp đồng chuyển nhượng.
Chị H là chị dâu của chị, có sử dụng tiền của khoản vay chị đã trả tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện T. Nay, bà V khởi kiện yêu cầu chị và chị H trả 1.000.000.000 đồng thì chị không đồng ý. Chị chỉ đồng ý cùng chị H trả cho bà V số tiền 650.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật là 0,83%/tháng.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H thống nhất với lời trình bày của chị N, đồng ý cùng chị N liên đới trả cho bà V số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật là 0,83%/tháng.
Người làm chứng, bà Nguyễn Thị O trình bày: bà là người giới thiệu cho chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H vay tiền của bà Nguyễn Thị V. Sự việc vay tiền của chị N thì bà không có trực tiếp chứng kiến cụ thể. Tuy nhiên, bà có nghe bà V cho chị N vay 650.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng và bà V có giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chứng minh nhân dân của chị N.
Bản án sơ thẩm số: 03/2021/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Nguyễn Thị V đối với chị Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị H. Buộc chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị V số tiền nợ gốc là 650.000.000 đồng và 75.355.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là 725.355.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị V về việc yêu cầu chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới trả số tiền 350.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi số tiền 106.793.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị V có trách nhiệm trả lại cho chị Nguyễn Thị N: 01 Bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 01 giấy Chứng minh nhân dân (bản gốc).
Ngày 25 tháng 01 năm 2021, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q, kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xem xét lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc chị Nguyễn Thị N và chị Nguyễn Thị H có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho bà Nguyễn Thị V số tiền gốc là 1.000.000.000 đồng và lãi suất 1.66%/tháng kể từ 30 tháng 12 năm 2019 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Ngày 08 tháng 02 năm 2021 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh có quyết định kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST theo hướng hủy bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Xét thấy kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q là hợp lệ. Tuy nhiên, quá trình thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm ra Quyết định yêu cầu nguyên đơn, bị đơn cung cấp tài liệu chứng cứ là sai quy định tại Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ mối quan hệ giữa hợp đồng bị che dấu với hợp đồng giả tạo. Bản chất vụ án này là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng giả tạo để che dấu hợp đồng vay tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào lời khai nhận của chị H, chị N trong một giao dịch dân sự lập ngày 26/11/2019 để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà V là không phù hợp với yêu cầu khởi kiện của bà V và chưa thỏa mãn các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chưa xác định đúng quan hệ tranh chấp, chưa làm rõ trách nhiệm liên đới, trách nhiệm từng phần về số tiền vay và lãi suất phải trả. Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được; do đó, cần chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, hủy bản án sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Tân Châu giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu;
- Không xem xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Q (người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị V);
- Hủy Bản án sơ thẩm số: 03/2021/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Châu; - TAND huyện Tân Châu; - Chi cục THADS huyện Tân Châu; - Các đương sự; - Phòng HCTP – TAND tỉnh Tây Ninh; - Lưu: hồ sơ vụ án, lưu trữ, tập án./. |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Dương Liêm |
Bản án số 118/2021/DS-PT ngày 04/06/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 118/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị V có đơn khởi kiện chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị N phải trả cho bà số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và lãi suất là 1,66%/ tháng, kể từ ngày 30/12/2019 đến khi vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm. Lý do khởi kiện bà V cho rằng vào ngày 30/12/2019, chị N có vay của bà V 1.000.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 3%/ tháng, thời hạn vay là 24 tháng, trả lãi hàng tháng, trong thời hạn 3 tháng không đóng lãi thì bà V có quyền làm thủ tục điều chỉnh biến động nhận chuyển nhượng tài sản quyền sử dụng đất nêu trên. Để đảm bảo số tiền vay cùng ngày 30/12/2019 chị N đã lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền trên đất đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng T và Tờ cam kết lập ngày 01/01/2020, giữa bên thế chấp là chị N và bên cam kết là bà V ký tên, có chị Nguyễn Thị H ký tên làm chứng. Tuy vậy, chị N không thừa nhận có vay của bà V số tiền 1.000.000.000 đồng, việc chị N ghi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Tờ cam kết là do vào ngày 26/11/2019, chị N có vay của bà V số tiền 650.000.000 đồng để đáo hạn tiền vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện T (Agribank). Tuy nhiên, do không vay lại được nên bà V và chị N thỏa thuận lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Tờ cam kết để bảo đảm số tiền vay với giá thỏa thuận là 1.000.000.000 đồng; sau khi trừ đi tiền vay, tiền lãi là 750.000.000 đồng, bà V phải trả thêm cho chị N 250.000.000 đồng, nhưng các bên không thực hiện được, vì bà V không trả thêm tiền cho chị N nên chị N yêu cầu Phòng Công chứng T tạm ngừng giao dịch và lấy lại bản chính hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
