|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1174/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-9-2024.
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Phước Trinh
- Bà Phạm Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên toà: Không.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 510/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 480/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 582/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lưu Thị Ngọc D, sinh năm 1993
Địa chỉ: Số A, đường số B, ấp TT, xã TTH, huyện CC, Thành phố H. (Có mặt)
2. Bị đơn: Ông Lê Phú Q, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Số C, ấp T, xã TQ, huyện TB, tỉnh ĐT.
Địa chỉ tạm trú: Số E, đường F, ấp T, xã TTH, huyện CC, Thành phố H. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Lưu Thị Ngọc D trình bày như sau:
Bà và ông Q tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56, ngày 28/4/2016.
Trong thời gian đầu chung sống, vợ chồng rất hạnh phúc, sinh sống cùng nhau tại xã Tân Thông Hội. Đến năm 2022, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, trong sinh hoạt hàng ngày mỗi người một ý nên khó có tiếng nói chung. Từ đó, vợ chồng bà thường xuyên xảy ra cãi vã khiến cho bà cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng. Sự việc kéo dài cho đến nay, bà nhận thấy hôn nhân không đạt mục đích, đời sống chung không thể kéo dài vì mâu thuẫn hiện tại không thể nào hàn gắn được nữa. Cũng năm 2022, bà về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng bà sống ly thân từ năm 2022, không ai quan tâm lẫn nhau nữa. Bà cũng không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với ông Q. Nay bà làm đơn này xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Q.
Về con chung: Bà xác định không có.
Về tài sản chung: Bà xác định không có.
Về nợ chung: Bà xác định không có.
Bị đơn ông Lê Phú Q đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ 02 mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Căn cứ đơn xin ly hôn ghi ngày 21 tháng 3 năm 2024, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn ông Lê Phú Q có địa chỉ tại xã TTH, huyện CC, Thành phố H. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi.
Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà D:
Bà D và ông Q có tìm hiểu nhau và tiến đến hôn nhân vào năm 2016, cả hai tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 56, ngày 28/4/2016, nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét mâu thuẫn phát sinh: Bà D trình bày, năm 2022, vợ chồng bà xảy ra bất đồng quan điểm sống, trong sinh hoạt hàng ngày mỗi người một ý nên khó có tiếng nói chung. Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã khiến cho bà cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng. Từ năm 2022, bà D dọn về nhà cha mẹ ruột để sinh sống cho đến nay. Vợ chồng từ đó sống ly thân, không còn quan tâm lẫn nhau nữa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để tạo điều kiện cho các đương sự hàn gắn tình cảm, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn phát sinh. Tuy nhiên, bị đơn ông Q vắng mặt, không gửi văn bản trình bày ý kiến của ông đối với vụ kiện. Qua đó đã thể hiện ông Q không có nguyện vọng đoàn tụ và hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, bà D xác định bà và ông Q đã sống ly thân từ năm 2022. Xét thấy, bà và ông Q không còn tạo điều kiện cho nhau để thực hiện quyền, nghĩa vụ vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn kéo dài, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở.
[3]. Về con chung: Bà D xác định không có.
[4]. Về tài sản chung: Bà D xác định không có. Về nợ chung: Bà D xác định không có. Bị đơn ông Q vắng mặt, nếu có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
[5]. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
1. Về quan hệ hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Lưu Thị Ngọc D và ông Lê Phú Q.
2. Về con chung: Bà D xác định không có.
3. Về tài sản chung: Bà D xác định không có. Về nợ chung: Bà D xác định không có. Do ông Q vắng mặt, nếu ông Q có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác.
4. Về án phí:
- Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) bà D phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015167 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi. Bà D đã nộp đủ tiền án phí.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Túy Phượng |
Bản án số 1174/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 1174/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn giữa bà Lưu Thị Ngọc D và ông Lê Phú Q
