|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1172/2024/HS-PT Ngày 16/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười;
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Thúy Hồng;
Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 857/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Võ Tấn P; do có kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P và bị hại Lê Đức P1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Võ Tấn P, sinh ngày 02/11/2001, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Minh K và bà Nguyễn Thị D; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo (theo yêu cầu): Ông Phan Duy V là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Lê Đức P1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Sử Văn N là Luật sư của Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/01/2024, sau khi Võ Tấn P đi uống bia về đến nhà khoảng 23 giờ, thì P nhận được tin nhắn của bạn gái là Nguyễn Thị Tuyết N1 với nội dung: tài khoản Facebook của Nguyễn Hồng L nhắn tin cho N1 với lời lẽ thiếu tế nhị. P đi ra sau nhà lấy con dao Thái lan cán bằng nhựa màu vàng lưỡi bằng kim loại sắc bén, giấu vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô biển số 64B2-320.70 đến nhà anh Nguyễn Hồng L tại ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, để nói chuyện với L về nội dung tin nhắn. Tại đây, P và L cãi nhau thì Lê Đức P1, tới can ngăn và nói cho P biết P1 là người lấy điện thoại của L nhắn tin cho N1 và nói với P có gì mai uống cà phê nói chuyện, nói xong P1 bỏ đi về nhà (cách nhà L khoảng 20m), P đi bộ theo đến trước cửa nhà P1 cả hai tiếp tục cãi nhau. Lúc này, khoảng 00 giờ 10 phút ngày 31/01/2024, bà Trần Thị T, là mẹ ruột của P1 đi ra kêu P đi về thì P xô đẩy làm bà T ngã xuống đường. P1 thấy bà T ngã nên dùng tay đánh P 02-03 cái trúng vào lưng và vai của P. P lấy con dao trong túi quần ra cầm dao bằng tay phải đứng đối diện, đâm một cái trúng vào bụng của P1, P1 ôm bụng gục xuống, P tiếp tục cầm dao đâm một cái trúng vào mặt của P1 làm gãy cán dao, phần lưỡi dao dính vào mặt của P1. P cầm cán dao bỏ vào cốp xe, điều khiển xe về nhà. Về đến nhà, P dùng điện thoại nhắn tin cho bạn bè với nội dung đe dọa sẽ đâm L.
Lê Đức P1 được đưa đi cấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V, do vết thương nặng nên được chuyển đến Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 17/02/2024 được xuất viện.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 64/KLTTCT-TTPY ngày 25/3/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đức P1 tại thời điểm giám định là 82%.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 01 (một) lưỡi dao kim loại màu trắng không đo được kích thước, được niêm phong có chữ ký xác nhận của bác sĩ;
- - 01 (một) cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, rộng 02cm, trên thân dao có chữ “KIWI";
- - 01 (một) đoạn dữ liệu ghi âm điện thoại có dung lượng 108KB;
- - 05 (năm) ảnh chụp màn hình điện thoại có nội dung tin nhắn của tài khoản messenger Phát V1;
- - Tiền Việt Nam đang lưu hành 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu đồng)
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Lê Đức P1 yêu cầu bồi thường 539.475.354 đồng (năm trăm ba mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm năm mươi bốn đồng) gồm có: chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, tổn thất ngày công lao động trong thời gian điều trị thương tích, tái khám với số tiền: 179.475.354 đồng (một trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm năm mươi bốn đồng); tổn thất thu nhập bị mất từ sau khi xuất viện cho đến khi đủ 02 năm hồi phục: 360.000.000 đồng (ba trăm sáu mưới triệu đồng).
- Gia đình của Võ Tấn P đồng ý bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, tổn thất ngày công lao động trong thời gian điều trị thương tích, tái khám do bị hại yêu cầu và đã nộp số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng) để bồi thường. Phần còn lại đề nghị Tòa án xem xét.
Tại Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS-P1 ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã truy tố để xét xử bị cáo Võ Tấn P về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Tấn P phạm tội “Giết người”.
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Án lệ số 47/2021/AL ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Võ Tấn P 12 (mười hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 31/01/2024.
2. Về bồi thường thiệt hại:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, điểm a khoản 1 Điều 591, các điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị bại, bị cáo Võ Tấn P có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lê Đức P1 chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, tổn thất ngày công lao động trong thời gian điều trị thương tích, tái khám với số tiền 180.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Võ Tấn P phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lê Đức P1 tiền mất thu nhập 20 tháng, số tiền 9.000.000 đồng/tháng, tổng cộng 180.000.000 đồng.
Tổng cộng các khoản là 360.000.000 đồng, trừ 180.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã nộp, buộc bị cáo Võ Tấn P phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Lê Đức P1 số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị D hỗ trợ cho bị hại Lê Đức P1 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 24/8/2024, bị cáo Võ Tấn P làm đơn kháng cho rằng mức án xử bị cáo là quá nặng, đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt, không đồng ý với số tiền bồi thường là 360.000.000 đồng, đề nghị giám định lại thương tích đối với bị hại.
Ngày 30/8/2024, bị hại Lê Đức P1 làm đơn kháng cáo, đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn P và yêu cầu tăng số tiền bồi thường thiệt hại là 430.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Võ Tấn P rút một phần yêu cầu kháng cáo về việc không đồng ý với số tiền bồi thường là 360.000.000 đồng và đề nghị giám định lại thương tích đối với bị hại, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Lê Đức P1 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đầy đủ theo qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định.
- Về nội dung: Vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã phân tích về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Võ Tấn P. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Tấn P rút một phần yêu cầu kháng cáo về trách nhiệm dân sự, giám định lại thương tích của bị hại và bị hại Lê Đức P1 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 342, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những kháng cáo trên. Xét kháng cáo yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo thì thấy bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P. Giữ nguyên quyết định bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về phần hình phạt đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Võ Tấn P cũng phân tích toàn bộ các chứng cứ có thể hiện trong hồ sơ vụ án cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại là người có lỗi trước; sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã tự nguyện nộp 180 triệu đồng tiền khắc phục hậu quả; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có tác động gia đình khắc phục thêm cho người bị hại 80 triệu đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lê Đức P1 cũng phân tích toàn bộ các chứng cứ có thể hiện trong hồ sơ vụ án cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại rút toàn bộ kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P và bị hại Lê Đức P1 trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Tấn P rút kháng cáo đối với yêu cầu xem xét phần trách nhiệm dân sự và yêu cầu giám định lại thương tích của bị hại Lê Đức P1, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại Lê Đức P1 rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Do đó, căn cứ Điều 342, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những kháng cáo nêu trên.
[2.2] Bị cáo Võ Tấn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của Bản cáo trạng đã truy tố và bản án sơ thẩm đã quy kết, trình bày của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy lời khai của bị cáo Võ Tấn P là phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với trường hợp phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi phạm tội “Giết người”.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đặc biệt nghiêm trọng đến tính mạng của người bị hại được pháp luật bảo vệ, tạo ra sự bất bình trong dư luận xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Tấn P, phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
[2.3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Võ Tấn P thì thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình có xem xét bị cáo Võ Tấn P chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục bồi thường một phần cho người bị hại, trong vụ án này người bị hại cũng có một lỗi nên xử phạt bị cáo Võ Tấn P với mức án 12 (mười hai năm) tù là có căn cứ. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có tác động gia đình khắc phục bồi thường cho bị hại số tiền 80.000.000 đồng, thể hiện sự ăn năn hối cải và thiện chí của bị cáo muốn bồi thường cho phía bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại cũng rút yêu cầu kháng cáo tăng nặng hình phạt đối với bị cáo và không có ý kiến gì về việc bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là những tình tiết mới phát sinh ở cấp phúc thẩm, nên có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P, sửa một phần quyết định bản án sơ thẩm, về giảm hình phạt của bị cáo Võ Tấn P.
[4] Về án phí phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357, Điều 342, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị hại Lê Đức P1.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P về việc yêu cầu xem xét phần trách nhiệm dân sự và yêu cầu giám định lại thương tích của bị hại Lê Đức P1.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Tấn P về việc xin giảm nhẹ hình phạt.
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về trách nhiệm hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Võ Tấn P.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Tấn P, phạm tội “Giết người”.
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Án lệ số 47/2021/AL ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt: Bị cáo Võ Tấn P 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 31/01/2024.
2. Về bồi thường thiệt hại:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, điểm a khoản 1 Điều 591, các điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị bại, bị cáo Võ Tấn P có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lê Đức P1 chi phí điều trị, tổn thất tinh thần, tổn thất ngày công lao động trong thời gian điều trị thương tích, tái khám với số tiền 180.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Võ Tấn P phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Lê Đức P1 tiền mất thu nhập 20 tháng, số tiền 9.000.000 đồng/tháng, tổng cộng 180.000.000 đồng.
Tổng cộng các khoản là 360.000.000 đồng, trừ 180.000.000 đồng bị cáo và gia đình đã nộp (theo biên lai thu tiền số 0007852 ngày 10/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, do bà Nguyễn Thị D đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra để khắc phục thiệt hại thay bị cáo), buộc bị cáo Võ Tấn P phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Lê Đức P1 số tiền 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị D hỗ trợ cho bị hại Lê Đức P1 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Võ Tấn P (bà D nộp thay) nộp số tiền 80.000.000 đồng theo Biên lai số 0007900 ngày 26/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long để đảm bảo cho việc thi hành án.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Tấn P không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
7
Bản án số 1172/2024/HS-PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (giết người)
- Số bản án: 1172/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo
