TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày: 31/10/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Trần Thị Thanh Thủy.
- 2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh .
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Viết H- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 01/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024 QĐXXST- HS ngày 15/10/2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Đức T; Sinh ngày 21/4/1986. Tại: Thôn L, xã N, huyện Đ, Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện Đ, Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Bá C và bà: Bùi Thị K; Chưa có vợ;
+Tiền sự: Tiền sự: Có 02 tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, gồm:
- - Tại Quyết định số 31/2020/QĐ-TA ngày 02/7/2020 của TAND thành phố Thái Bình, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T, thời hạn chấp hành 01 năm 06 tháng. Ngày 08/12/2021 chấp hành xong.
- - Tại Quyết định số 14/2022/QĐ-TA ngày 12/5/2022 của TAND huyện Đông Hưng, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đức T, thời hạn chấp hành 01 năm 06 tháng. Ngày 25/3/2024 chấp hành xong.
+ Tiền án: Không;
Nhân thân:
Tại bản án số 176/2016/HSST ngày 17/10/2016 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 24 tháng tù và 200.000 đồng tiền án phí, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009. Ngày 24/4/2017 nộp xong tiền án phí. Ngày 23/8/2018 chấp hành xong án phạt tù. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 BLHS bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 11/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2/Nguyễn Văn Tiệp;. Sinh ngày 17/10/1992. Tại: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn C1 và bà: Nguyễn Thị K1 ; Chưa có vợ;
+ Tiền sự: Có 01 tiền sự. Tại Quyết định số 29/2022/QĐ-TA ngày 12/10/2022 của TAND huyện Đông Hưng, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T1, thời hạn chấp hành 24 tháng, đang chấp hành thì ngày 05/6/2024 phạm tội.
+ Tiền án: Không;
Nhân thân:
Tại bản án số 62/2019/HSST ngày 18/9/2019 của TAND huyện Đông Hưng xử phạt 01 năm 06 tháng tù và 200.000 đồng tiền án phí, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS. Ngày 06/11/20216 nộp xong tiền án phí. Ngày 08/10/2020 chấp hành xong án phạt tù. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 BLHS bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 11/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
+ Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1979 thôn P, xã Đ huyện Đ, Tỉnh Thái Bình và ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1954 thôn M, xã Đ, huyện Đ, Tỉnh Thái Bình.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
+ Người làm chứng : Anh Hà Xuân T2, sinh năm 1982, ở phường K, thành phố T; anh Nguyễn Văn Xuân T3, sinh năm 1988, ở xã P, huyện Đ, anh Tô Văn C2, sinh năm 2001 ở xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; anh Trần Văn T4, sinh năm 1989, ở thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;
(Anh T2, anh T3, anh C2 và anh T4 hiện nay đang Cai ngiện tại: Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình, có địa chỉ thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình)
Bà bà Vũ Thị N, sinh năm 1975 ở thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, tỉnh Thái Bình; chị Trần Thị H1, sinh năm1990, trú tại: thôn L, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. ChịNguyễn Thị Thanh Nhàn, sinh năm 980, T5 tại : Tổ C, phương K, thành phố T; anh Hồ Ngọc A, sinh năm1993, trú tại: Tổ D, phương kỳ B, thành phố T; anh Bùi Văn T6, sinh năm 1982, trú tại: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; anh Bùi Văn T7, sinh năm 1982 ở thôn T, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 là đối tượng nghiện ma túy được đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình, có địa chỉ thôn N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình theo quyết định của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng. Trong quá trình cai nghiện, T và T1 quen biết nhau, T1 xin số điện thoại của T để liên lạc sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện. Ngày 25/3/2024, T chấp hành xong thời gian cai nghiện về địa phương.
Tối ngày 04/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy loại Heroin, T1 nảy sinh ý định mượn tiền của các học viên cai nghiện ma túy cùng nói dối là mua đồ dùng cá nhân để chuyển ra ngoài cho T mua ma túy, nhờ T ném vào cho T1 sử dụng. Thực hiện ý đồ đó, khoảng 19 giờ cùng ngày, T1 hỏi Hà Xuân T2 vay 800.000 đồng; hỏi Nguyễn Văn X Tùng vay 900.000 đồng và hỏi Tô Đức C3 vay 300.000 đồng. T2, T3 và C3 đồng ý cho T1 vay số tiền trên. Sau khi vay được tiền, T1 hỏi mượn số tài khoản của Trần Văn T4 là người cai nghiện cùng phòng với T1, T4 đồng ý gọi điện về cho vợ là chị Trần Thị H1 lấy số tài khoản 100003185284 Ngân hàng V của chị H1 cho T1 mượn. Sau khi mượn được tài khoản của chị Huế T8 cung cấp cho T2, T3 và C3 để chuyển tiền. T2 gọi điện cho bạn là chị Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1980 ở tổ C, phường K, thành phố T vay 900.000 đồng; T3 gọi điện cho bạn là chị Hồ Ngọc A, sinh năm 1993 ở tổ D, phường H, thành phố T vay 800.000 đồng; C3 gọi điện cho mẹ là bà Vũ Thị N, sinh năm 1975 ở thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình xin 300.000 đồng rồi bảo những người này chuyển tiền vào tài khoản của chị H1 với tổng số tiền 2.000.000 đồng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T8 gọi điện cho T nói “Em chuyển cho anh 2.000.000 đồng, tý anh lấy Heroin mai ném vào khu sân nhà thăm gặp cho em”, (Ý T là chuyển 2.000.000 đồng để T đi mua ma túy heroin ném vào cho T8, T8 hẹn Thịnh 08 giờ sáng ngày hôm sau ngày 05/6/2024 ném vào cho T8) và T8 hỏi số tài khoản của T để chuyển tiền mua ma túy. T đồng ý đi mua ma túy cho T8 để kiểm lời. Do chưa có tài khoản nên T ra quán điện thoại của anh Bùi Văn T7, sinh năm 1982 ở thôn B, cùng xã mượn số tài khoản 1020213702 Ngân hàng V1 của anh T7 gửi cho T8. Sau khi nhận được tài khoản của T, T8 gọi điện cho chị H1 bảo chuyển tiền vào số tài khoản T cung cấp, chị H1 sử dụng số tài khoản của mình số [...] Ngân hàng V chuyển 2.000.000 đồng của T8 nhờ chuyển hộ đến số tài khoản 1020213702 Ngân hàng V1 của anh T7. Sau đó, T nhận tiền mặt từ anh T7, rồi T đi bộ ra đường Q 39 thuê xe ôm của người đàn ông không biết tên, địa chỉ đến khu vực ngã tư Đ, đèn đỏ thuộc địa phận xã M, huyện Đ mua 06 gói ma túy Heroin hết 1.200.000 đồng rồi bắt xe ôm về nhà mình lấy ½ gói ra sử dụng. Số còn lại T đổ dồn vào một gói, rồi gói lại bằng giấy tráng kim màu trắng để sáng hôm sau ném vào cho T8, còn số tiền lời 800.000 T sử dụng chi tiêu cá nhân.
Khoảng 08 giờ ngày 05/6/2024, T bỏ gói ma túy vào túi quần bên trái và thuê xe ôm của người không quen đi đến khu vực cầu C, xã Đ, huyện Đ rồi đi bộ vào cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình ở thôn N, xã Đ ném ma túy vào cho T8. Khi T đang đi bộ trên trục đường thôn M, xã Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ và Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ thấy có biểu hiện liên quan đến ma túy yêu cầu dừng lại kiểm tra và mời người chứng kiến, T đã tự nguyện lấy trong túi quần bên trái đang mặc 01 gói ma túy có đặc điểm gói bằng giấy tráng kim màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục giao nộp cho tổ công tác. T khai là ma túy loại H2 mang đi để ném vào cho T8. Công an huyện Đ đã lập Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.
Khám xét nơi ở của T và T8, Cơ quan điều tra không thu giữ tài sản, đồ vật gì.
Bản Kết luận giám định số 836/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Nguyễn Đức T ngày 05/6/2024 là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,4824 gam (Không phẩy bốn nghìn tám trăm hai mươi bốn gam).
Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKSĐH ngày 27/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Nguyễn Đức Thịnh - Về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 - Về tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” theo Đ c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:
Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.
Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T – Phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T1 – Phạm tội “Tàng trữ tái phép chất ma túy” theo Đ c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo T và bị cáo Tiệp được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo T1 ra đầu thú được hưởng tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS; bị cáo T1 phạm tội thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt”. Cả 02 bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điểm 251; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo T từ 03 năm 03 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù.
+ Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 15; Điều 57; Điều 50; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo T1 từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung:
+ Áp dụng Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đề nghị phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức T từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
Đối với bị cáo T1: Xét thấy bị cáo mua ma túy về sử dụng nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
+ Về vật chứng và tài sản thu giữ:
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự:
Xét thấy H2 là vật phẩm cấm lưu hành. Do đó, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Heroin còn lại sau giám định có khối lượng 0,4219 gam.
Đối với 01 điện thoại Samsung A11 của bị cáo T và của Tiệp bị cáo 01 điện thoại Nokia các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Cần tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[I] Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.
Về việc vắng mặt của những người Chứng kiến và những người làm chứng, những người trên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ vào Điều 296; Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[II] Về nội dung:
[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an Đ lập hồi 09 giờ 15 phút ngày 05/6/2024 tại UBND xã Đ, huyện Đ cũng như lời khai của những người chứng kiến; lời khai của người làm chứng cùng với:
- - Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản ảnh vật chứng đã quản lý, niêm phong gói ma túy thu của Nguyễn Đức T.
- - Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, hồi 12 giờ ngày 05/6/2024 tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh Thái Bình đối với Nguyễn Văn T1. Bị can T1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, bị can khai chiếc điện thoại này bị can liên lạc mua ma túy với T.
- - Biên bản kiểm tra điện thoại thu của bị can T và bị can T1 có nội dung cuộc gọi đi và nhận cuộc gọi đến giữa số điện thoại 0965.808.xxx của T và số điện thoại 0392.471.xxx của T1 vào tối ngày ngày 04/6/2024 và sáng ngay 05/6/2024. T và T1 đều khai gọi cho nhau để mua bán ma túy.
- - Lời khai của người làm chứng: Anh Hà Xuân T2; anh Nguyễn Văn Xuân T3; anh Tô Văn C2; anh Trần Văn T4; bà Vũ Thị N; chị Nguyễn Thị Thanh N1; anh Hồ Ngọc A; chị Trần Thị H1; anh Bùi Văn T6 và bản kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;
- Heroine, C4, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Hành vi của bị cáo T và bị cáo T1 là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền độc quyền quản lí của nhà nước về chất gây nghiện.
[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:
Với mức độ mua bán, tàng trữ 0,4824 gam ma tuý là H3 thì hành vi phạm tội của bị cáo T, T1 thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[3]Tình tiết tăng nặng:
Hai bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
[4]Tình tiết giảm nhẹ:
Bị cáo T và bị cáoTiệp được hưởng các tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị can T1 ra đầu thú được hưởng tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Hành vi của bị cáo T1 đưa tiền cho bị cáo T đi mua ma túy mục đích để bị can sử dụng cho bản thân, bị cáo T đã mua được ma túy cho T1, trên đường mang ma túy đến cho T1 thì bị phát hiện bắt quả tang. Việc bị cáo T1 chưa nhận được ma túy là vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo T1 thuộc trường hợp “Phạm tội chưa đạt” quy định tại Điều 15 và Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hai bị cáo đã bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không tu dưỡng bản thân mà lại phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng đối với các bị cáo, mới đủ giáo dục và cải tạo bị cáo.
[5]Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo T1 mua ma tuý về sử dụng. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Áp dụng Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo T là: 7.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Heroine là vật phẩm cấm lưu hành. Chiếc điện thoại T và T1 dùng vào việc phạm tội - Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định có khối lượng 0,4219 gam. Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Samsung A11 thu của bị cáo T và 01 điện thoại Nokia của bị cáo T1. Đối với số tiền 2 triệu đồng bị cáo T nhận của bị cáo T1, bị cáo T đã mua ma túy hết 1.200.000 đồng. Số tiền còn lại 800.000 đồng là tiền T thu lợi bất chính cần truy thu sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo T là 800.000 đồng.
Về người bán ma túy cho T, T khai mua của một người không biết tên, địa chỉ ở khu vực ngã tư địa phận xã M nên không đủ căn cứ điều tra, để xử lý.
Đối với anh T2, anh T3, anh C2 cho T1 mượn tiền; chị N1, chị Ngọc A cho anh T2, anh T3 mượn tiền; bà N cho C2 tiền; anh T7, anh T6, chị H1 cho T và T1 mượn tài khoản để chuyển tiền; Những người này không biết T1, T sử dụng tiền và tài khoản để mua bán trái phép chất ma túy nên không xử lý.
[7] Về án phí Hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T - Phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” Bị cáo Nguyễn Văn T1 - Phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
[2] Về áp dụng luật và hình phạt:
- - Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Đức T Khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .
- - Áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn Tiệp Đ c Khoản 1 Điều 249; Điều 15; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
+Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 03(ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024.
- Phạt bổ sung đối với với bị cáo Nguyễn Đức T số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước
[3] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định có khối lượng 0,4219 gam.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Samsung A11 thu của bị cáo T và 01 điện thoại Nokia của bị cáo T1.
Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Đ1 số tiền là 800.000 đồng (T9 trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.
[4] Về án phí:
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.
Bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với Bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/10/2024)./.
Nơi nhận
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Tiến Hưng |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T - Th Mua bán , tàng trữ trái phép chất ma túy
