|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HSST |
Ngày: 30 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lục Kim Thanh.
- Bà Phạm Minh Thuận.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh năm 1987 tại tỉnh Bình Dương, giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BL, xã PA, thị xã (nay là thành phố) BC, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Ấp BL, xã PA, thị xã (nay là thành phố) BC, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Nguyễn Văn B, sinh năm: Không rõ. (đã chết); mẹ: Từ Thị H, sinh năm: 1964; có con: Nguyễn Minh T1, sinh năm: 2016; có 02 anh em, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 1989. Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 18/11/2023, bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã (nay là thành phố) Bến Cát cho đến nay.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Minh T là đối tượng nghiện ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine). T bắt đầu sử dụng ma túy đá từ đầu năm 2019.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/11/2023, Nguyễn Minh T quá giang xe đi trên đường từ nhà thuộc ấp Ấp BL, xã PA, thị xã (nay là thành phố) BC, tỉnh Bình Dương đến khu vực ấp Áp AM, xã AD, thị xã (nay là thành phố) BC t mua được 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá với giá 600.000 đồng của người phụ nữ (không rõ lai lịch). Sau đó, T cất giấu 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá vào trong túi quần bên trái phía trước chiếc quần T đang mặc rồi quá giang xe đi trên đường quay về nhà. Tại đây, T lấy một phần ma túy đá trong gói nylon ra sử dụng, rồi cất giấu số ma túy đá còn lại dưới bình hoa để trên bàn gỗ trong phòng khách nhà của T.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày 18/11/2023, lực lượng Công an xã Phú An đến nhà của T kiểm tra hành chính, T khai T vừa sử dụng ma túy đá. Sau đó, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của T phát hiện 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng để dưới bình hoa trên bàn gỗ trong phòng khách. T khai chất tinh thể màu trắng là ma túy đá nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với T.
Vật chứng thu giữ: 02 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.
Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Theo Kết luận giám định số 630/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,1843 gam, loại Methamphetamine. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, khối lượng: 0,1625 gam.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ các Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 0,1625 gam ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 113/CT- VKS-BC ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng các Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,1625 gam ma túy loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo cùng những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa của bị cáo thể hiện như sau:
Lúc 13 giờ ngày 18/11/2023, tại nhà của Nguyễn Minh T thuộc ấp Bến Liễu, xã Phú An, thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện Nguyễn Minh T có hành vi cất giấu 0,1843 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng.
Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản kiểm tra hành chính và tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi tàng trữ 0,1843 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng của bị cáo Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, bản Cáo trạng số 113/CT- VKS-BC ngày 25/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Ngoài ra, ma túy là một loại chất độc dược gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và cũng là mầm mống lan truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS, vv. Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.
Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần xử phạt bị cáo với mức án phù hợp, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt gồm: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông ngoại Từ Văn Q, bà ngoại Nguyễn Thị R được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; ông nội Lê Văn Th là liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.
[5] Xét thấy, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với vật chứng là 01 bì thư được niêm phong ghi số 630/PC09 có chữ ký của Nguyễn Minh T (người chứng kiến), Nhan Thái điền (bên trả mẫu), đinh công tuấn (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Xét đây là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người phụ nữ (không rõ lai lịch) bán ma túy cho Nguyễn Minh T, đề nghị Cơ quan điều tra iếp tục điều tra làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Minh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T mức án 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/11/2023.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 bì thư được niêm phong ghi số 630/PC09 có chữ ký của Nguyễn Minh T (người chứng kiến), Nhan Thái Điền (bên trả mẫu), Đinh Công Tuấn (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/5/2024 giữa Công an thành phố Bến Cát với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí:
Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA |
| Lục Kim Thanh | Lại Thị Ngọc Bích |
| Phạm Minh Thuận |
Bản án số 117/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng
