Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày: 29-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Lưu Thị Thôi.

Bà Trần Thị Thanh Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Biện Anh Huy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Hải Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu H, giới tính: Nữ, sinh năm: 1996, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1967 và bà Cao Thị N, sinh năm 1970; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Chồng: Nguyễn Văn P (không rõ năm sinh. Không đăng ký kết hôn); Con: Con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lê Thị Ngọc T, sinh năm: 2001.

Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Cao Thị N, sinh năm: 1970 (Vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

  3. Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1991.
  4. Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 10/11/2023, Nguyễn Thị Thu H cùng bà Cao Thị N, sinh năm 1970 ; trú tại thôn A, xã H, huyện H là mẹ ruột H đến cửa hàng bán đồ gia dụng Lê Hằng số 105A đường V thuộc khu phố B, phường P, thành phố P để H vào trong mua đồ, bà N đứng ngoài đợi. Mua xong, H đến quầy thanh toán để bà Lê Thị Ngọc T1, sinh năm 2001, trú tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là nhân viên cửa hàng Lê H1 tính tiền thì H phát hiện trên quầy này, nơi bà T1 đứng có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro của bà T1 nên H nảy sinh ý định trộm cắp. H lợi dụng lúc bà T1 tìm tiền thừa để đưa lại cho H, không chú ý trong quản lý tài sản thì H lấy chiếc điện thoại Iphone 12 Pro bỏ vào túi đồ H vừa mua, lấy tiền thừa từ bà T1 rồi ra xe nơi bà N đứng đợi để bà N chở H ra bến xe N rồi H bắt xe “đò” tẩu thoát về nhà bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1991 là chị gái H tại thôn E, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bà T1 phát hiện chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro đã bị mất. Định vị tìm điện thoại, bà T1 xác định chiếc điện thoại của bà T1 đang ở thị trấn T, huyện H nên đến Công an thị trấn T trình báo sự việc.

Về phía H, tại nhà bà N1, khoảng 15 giờ cùng ngày, H nói dối bà N1 về việc H lượm được 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 12 Pro trên xe ô tô khi H đi xe này từ thành phố P về huyện H. Tuy nhiên, do điện thoại có cài mật khẩu, không thể sử dụng nên H nhờ bà N1 chở ra thị trấn T, huyện H lấy tiền. Nghe vậy, bà N1 chở H đi đến khu vực Căn cứ F thuộc thị trấn T thì bị Công an thị trấn T mời về trụ sở làm việc. Tại đây, H khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên .

Vật chứng của vụ án:

  • Bà Lê Thị Ngọc T1 giao nộp:
  • + 01 USB màu vàng, kích thước 5 x 1,5cm, gắn thẻ nhớ dung lượng 2Gb, bên trong chứa đoạn ghi hình vụ việc H trộm cắp điện thoại tại cửa hàng bán đồ gia dụng “Lê Hằng”, địa chỉ số: 105A đường V thuộc khu phố B, phường P, thành phố P vào ngày 10/11/2023.

  • Nguyễn Thị Thu H giao nộp: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng, số IMEI: 356697114674933.

Tại kết luận định giá tài sản số 275/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng, số IMEI: 356697114674933, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, vào thời điểm ngày 10/11/2023 có giá trị 8.166.667 đồng.

Xử lý vật chứng:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, Pro màu trắng, số IMEI: 356697114674933, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho chủ sở hữu. Bà Lê Thị Ngọc T1 đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì về dân sự.
  • 01 USB màu vàng, bên trong chứa đoạn ghi hình vụ việc H trộm cắp điện thoại tại cửa hàng bán đồ gia dụng “Lê Hằng” vào ngày 10/11/2023, được lưu cùng hồ sơ để phục vụ việc xét xử.

Tại bản cáo trạng cáo số 70/CT-VKSPT-HS ngày 26/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “thành khẩn khai báo” và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 06 -09 tháng tù nhưng cho hường án treo, thời gian thử thách 12-18 tháng.

Bà Nguyễn Thị N1 và bà Cao Thị N không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H nên cơ quan điều tra không xử lý bà N1 và bà N là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên về hành vi phạm tội của mình cũng như lời kết tội của Kiểm sát viên.

Về lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị Thu H nói lời sau cùng rất hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra-Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị Thu H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[1.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H không khiếu nại về thủ tục tố tụng.

[2] Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, tại cửa hàng bán đồ gia dụng L thuộc khu phố B, phường P, thành phố P, Nguyễn Thị Thu H đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, trị giá 8.166.667 đồng của bà Lê Thị Ngọc T1.

[2.1] Bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, trị giá 8.166.667 đồng nên phạm tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[2.2] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra thành khẩn khai báo, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

-Nhân thân: Không

[4] Hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có xem xét đến nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, giao bị cáo về địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm; tạo điều kiện cho bị cáo lao động lương thiện để sinh sống nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước.

[5] Về biện pháp tư pháp: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, Pro màu trắng, số IMEI: 356697114674933, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại cho chủ sở hữu. Bà Lê Thị Ngọc T1 đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Bà Nguyễn Thị N1 và bà Cao Thị N không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Thu H nên cơ quan điều tra không xử lý bà N1 và bà N là có căn cứ pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án 29/5/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hành phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo Nguyễn Thị Thu H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Nghĩa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/5/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo
  • - VKSND tp. Phan Thiết
  • - Công an tp.Phan Thiết
  • - Người tham gia tố tụng
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú.
  • - Chi cục THADS tp.Phan Thiết
  • - Cổng TTĐT TANDTC
  • - Lưu hồ sơ

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger