|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày: 28-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Long
- Bà Huỳnh Thị Phương Trinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 88/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Bùi Thanh T, giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 13/12/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 128/6 đường N, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Thanh H và bà Trần Thị T1; anh, chị, em ruột: có 01 người; vợ con: chưa có.
Tiền sự: không; tiền án: không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2023 (có mặt).
2. Đỗ Thành T2, giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/7/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 165/3Đ, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đỗ Thanh T3 và bà Nguyễn Thị Thanh N; anh, chị, em ruột: 03 người; vợ con: chưa có.
Tiền sự: không; tiền án: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/11/2023 (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo T: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1981;
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo T2: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Thành T2: Luật sư Trần Thanh C - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H;
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thanh T: Luật sư Phan Tường D -Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H;
Địa chỉ: D N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Địa chỉ: D N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị hại: Anh Nguyễn Nhật L, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm A, thôn A, G, T, Bình Thuận.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1981 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 29/11/2023, Bùi Thanh T sử dụng xe gắn máy biển số 53Y3-5200 chở Đỗ Thành T2 trên đường T, xã T, huyện H thì T rủ T2 cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu xài, T2 đồng ý.
Đến khoảng 14 giờ, khi đến trước nhà số H T, ấp M, xã T, huyện H thì T phát hiện anh Nguyễn Nhật L tay trái cầm điện thoại di động hiệu Samsung A33 5G đang nghe máy nên T rủ T2 giật điện thoại này. T áp sát vào để T2 ngồi ở phía sau sử dụng tay phải giật lấy điện thoại của anh L rồi tăng ga xe tẩu thoát. Ngay sau khi bị giật điện thoại, anh L và người dân truy đuổi đến trước số A ấp M, xã T, huyện H thì khống chế bắt giữ được Bùi Thanh T cùng tang vật và phương tiện giao cho Công an xã T; Đỗ Thành T2 bỏ chạy trốn thoát. Đến khoảng 18 giờ ngày 29/11/2023, Đỗ Thành T2 đến Công an xã T đầu thú.
Tại Kết luận định giá tài sản số 154/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H kết luận: Điện thoại Samsung Galaxy A33 5G màu xanh da trời ram bộ nhớ 128GB trị giá 3.000.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
01 điện thoại di động hiệu S A33 5G: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho anh L.
01 xe máy Wave biển số 53Y3-5200, số khung: NF110M0020406; số máy: NF110ME-0020406 do bà Trần Thị T1 (mẹ của T) đứng tên giấy đăng ký xe. Ngày 29/11/2023, bà T1 cho T mượn để đi múa lân, bà T1 không biết T sử dụng xe để đi cướp giật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho bà T1.
01 điện thoại di động hiệu Redmi not 8 Pro.
Về dân sự: Bị hại Nguyễn Nhật L không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 122/CT-VKSHM ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố các bị cáo Bùi Thanh T, Đỗ Thành T2 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Bùi Thanh T, Đỗ Thành T2 phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Bùi Thanh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tháng tù; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đỗ Thành T2 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Các luật sư bào chữa cho các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo và các bị cáo đồng ý với tội danh và điều luật truy tố. Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, các bị cáo khi phạm tội đều chưa thành niên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Khoảng 13 giờ ngày 29/11/2023, T rủ T2 cướp giật tài sản để lấy tiền tiêu xài thì T2 đồng ý. Đến khoảng 14 giờ, T chở T2 bằng xe gắn máy biển số 53Y3-5200 đến trước nhà số H T, ấp M, xã T, huyện H thì T phát hiện anh L tay trái cầm điện thoại di động hiệu Samsung A33 5G đang nghe máy nên T rủ T2 giật điện thoại này. T áp sát vào để T2 ngồi ở phía sau sử dụng tay phải giật lấy điện thoại của anh L rồi tăng ga xe tẩu thoát. Ngay sau khi bị giật điện thoại, anh L và người dân truy đuổi đến trước số A ấp M xã T, huyện H thì khống chế bắt giữ được T cùng tang vật và phương tiện giao cho Công an xã T, còn T2 bỏ chạy trốn thoát. Đến khoảng 18 giờ ngày 29/11/2023, T2 đến Công an xã T đầu thú.
Tài sản các bị cáo cướp giật trị giá 3.000.000 đồng.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Các bị cáo Bùi Thanh T, Đỗ Thành T2 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo đã có hành vi sử dụng xe gắn máy làm phương tiện đi cướp giật tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội, gây nguy hiểm tính mạng cho bị hại và bản thân các bị cáo. Bị cáo T có tình tiết tăng nặng “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cần có mức án nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại; bị cáo T2 sau khi phạm tội đã đầu thú; khi phạm tội, các bị cáo đều chưa thành niên, bị cáo T chưa đủ 16 tuổi. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và các luật sư đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Redmi not 8 Pro không liên quan đến vụ án, cần trả lại cho bị cáo T.
[8] Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 91; khoản 2 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Bùi Thanh T;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Thành T2;
Căn cứ Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử phạt:
1.1. Bị cáo Bùi Thanh T 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023.
1.2. Bị cáo Đỗ Thành T2 02 (hai) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2023.
2. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T 01 điện thoại di động hiệu Redmi not 8 Pro đã qua sử dụng (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Thanh T, Đỗ Thành T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mai |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cướp giật tài sản)
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CƯỚP TÀI SẢN
