|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 27/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà Trần Thị Hoa
- + Ông Huỳnh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai và điểm cầu thành phần: Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thanh M, sinh năm 2002, tại Cà Mau; nơi thường trú: ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (Còn sống) và bà Phạm Thị T (Còn sống); tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã, bị tạm giữ từ ngày 24/02/2024 và bị tạm giam cho đến nay (Có mặt).
- Bị hại: ông Dương Văn G, sinh năm 1976
Nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 04/11/2021, trên đường tới công ty làm việc, bà Từ Thị N bị một người đàn ông không rõ lai lịch sàm sỡ. Đến khoảng 17 giờ ngày 05/11/2021, bà N kể với con gái là Từ Thị T1 và con rể là Đồng Văn N1 nghe. N1 nói bà N cứ đi làm, N1 sẽ đi theo sau trông chừng. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N1 sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO A71 gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Trần Thanh M nói cầm cây ba khúc N1 đã cho M trước đó đi với N1 có việc, M đồng ý. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bà N đi bộ đến công ty làm việc, N1 cũng điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vision biển số 67C1-748.13 đi phía sau bà N. Khi đi đến khu vực ngã ba đèn vàng thuộc ấp E, xã T, N1 gặp M đang đứng đợi ở đó trên tay cầm 01 cây ba khúc. N1 kêu M lên xe và chở M đi cùng cách bà N khoảng 100m. Khi bà N đi đến đoạn đường Đ thuộc ấp Ông H, xã T thì gặp ông Dương Văn G đang điều khiển xe mô tô biển số 60C1- 395.00 trên đường. Thấy bà N, ông G dừng xe bên đường rồi đi đến ôm bà N từ phía sau, cầm tay bà N ngỏ ý chở bà N quá giang đi về. Bà N từ chối hất tay ông G ra khiến tay ông G chạm vào vùng ngực bên phải của bà N. Bà N sợ hãi tri hô lên thì ông G quay lại vị trí xe 60C1-395.00 điều khiển xe bỏ chạy. Nghe bà N tri hô, N1 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-748.13 chở M cầm theo cây ba khúc chạy đến kè sát bên hông phải xe ông G theo hướng ngược chiều nhau rồi N1 dùng chân phải đạp vào ống pô xe mô tô của ông G. Ông G loạng choạng tay lái chạy được khoảng 05m rồi cả người và xe ngã sang bên phải nằm trên mặt đường trong tư thế vai và đầu tiếp giáp mặt đường nhựa, chân phải bị xe mô tô đè lên. Ông G ngồi dậy tay trái ôm tay phải vì đau. Lúc này, N1 và M xuống xe đi đến chỗ ông G đang ngồi. Mãi duỗi cây ba khúc đang cầm trên tay ra uy hiếp buộc ông G ngồi im tại chỗ. N1 tiến đến gần ông G, dùng tay túm cổ áo phía sau gáy ông G, sau đó bẻ tay phải của ông G ra phía sau rồi tay trái giữ tay phải ông G, tay phải đánh liên tiếp nhiều cái vào vùng vai phải (phần tiếp giáp giữa vai và cổ), vùng cổ sau gáy ông G. N1 tiếp tục dùng chân đạp nhiều cái vào vùng hông và sườn bên phải của ông G. Khi N1 đang đánh ông G thì bà Từ Thị N, anh Nguyễn Tài T2 và anh Nguyễn Quốc C đến can ngăn nên N1 dừng tay. Sau đó, anh T2 chạy về tiệm sửa xe gần đó lấy 01 khóa số tám đem đến còng tay ông G ra phía sau rồi cùng anh C, N1, M đưa ông G lên Công an xã T làm việc.
Hậu quả: Ông Dương Văn G bị gãy xương đầu cánh tay phải, điều trị tại Bệnh viên đa khoa Đồng Nai. Ngày 07/11/2021, ông Dương Văn G có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và giám định tỷ lệ phần trăm thương tật.
Đồng Văn N1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xét xử tại Bản án số 59/2023/HS-ST ngày 28/4/2023.
Trần Thanh M đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, ngày 24/02/2024 bị bắt theo quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Thanh M thừa nhận hành vi phạm tội.
* Vật chứng thu giữ:
2
- + 01 gậy ba khúc bằng kim loại màu trắng Inox, cán bọc nhựa màu đen, gậy được kéo dài ra thành 03 khúc thẳng liền nhau có chiều dài 62cm và thu ngắn vào bên trong thành 01 đoạn có chiều dài 22cm (của Trần Thanh M);
- + 01 gậy ba khúc bằng kim loại màu trắng Inox, cán bọc nhựa màu đen, gậy được kéo dài ra thành 03 khúc thẳng liền nhau có chiều dài 62cm và thu ngắn vào bên trong thành 01 đoạn có chiều dài 22cm; 01 khóa số tám bằng kim loại màu trắng có in chữ Bộ C1; 01 roi điện dài 16cm ngang 3,5cm bằng nhựa màu đen có in chữ 12000K VOLT 928TYPE; 01 băng đeo tay màu đỏ viền vàng có in chữ “CLB hỗ trợ nhân dân PCTP Thạnh Phú” (do anh Nguyễn Tài T2 giao nộp).
- + 01 điện thoại di động hiệu VIVO F1.824 ASPH màu đen, chứa sim số 0815305426 (của Trần Thanh M);
- + 01 điện thoại Samsung Galaxy A30S màu xanh tím, vỏ màu đỏ, chứa sim số 0965980650 (của Nguyễn Tài T2);
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A 71 màu xanh, không gắn sim điện thoại (do Đồng Văn N1 giao nộp);
- + Xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số: 67C1-748.13;
- + Xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen biển số: 60C1-395.00.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0943/TgT/2021 ngày 10/01/2022 của Giám định viên Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Dương Văn G như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- - Tổn thương gãy cổ phẫu thuật xương cánh tay phải. Tỷ lệ: 33%.
- - Sẹo mổ mặt trước vai phải xuống cánh tay phải kích thước 13 x 0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Dương Văn G là 34% (Ba mươi bốn phần trăm).
- Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật tày.
Ngày 15/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V có Quyết định trưng cầu số 3077/QĐ giám định vật gây thương tích và cơ chế hình thành thương tích của ông Dương Văn G.
* Tại bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 1283/VG/2022 ngày 14/12/2022 của Giám định viên Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận như sau:
- - Theo tài liệu y khoa nguyên nhân dẫn đến gãy phức tạp chỏm và đầu trên xương cánh tay phải:
- + Chấn thương trực tiếp: Ngã đập vai xuống đất, nắn chỉnh khớp vai bị sai lệch.
- + Nguyên nhân gián tiếp: Chống tay hoặc khuỷu xuống nền đất khi ngã.
3
- + Gậy ba khúc có đặc điểm bằng kim loại màu trắng Inox, cán bọc nhựa màu đen, gậy được kéo dài ra thành 03 khúc thẳng liền nhau có chiều dài 62cm và thu ngắn vào bên trong thành 01 đoạn có chiều dài 22cm khó có thể gây ra thương tích cho anh Dương Văn G.
- + Nếu dùng tay không đánh khó có thể gây ra thương tích gãy phức tạp chỏm và đầu trên xương cánh tay phải của anh Dương Văn G theo cơ chế trực tiếp.
- + Việc N1 đạp xe của anh Dương Văn G làm anh G ngã có thể gây nên tổn thương gãy phức tạp chỏm và đầu trên xương cánh tay phải của anh Dương Văn G theo cơ chế trực tiếp do vùng vai nạn nhân G đập mạnh xuống nền đất gây ra.
Thực nghiệm điều tra trên cơ sở lời khai và mô tả của bị can N1, kết quả phù hợp với kết luận giám định về thương tích của ông Dương Văn G.
Thực nghiệm điều tra trên cơ sở lời khai và mô tả của ông Dương Văn G kết quả không phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác của vụ án.
Quá trình điều tra cũng như quá trình xét xử, bị cáo và bị hại không có ý kiến gì về bản Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm P.
Quá trình điều tra xác định:
- - Xe mô tô biển số 67C1-748.13 thuộc sở hữu của ông Mai Văn H1. Ngày 05/11/2021, N1 mượn xe đi công việc, ông H1 không biết N1 sử dụng xe vào mục đích phạm tội.
- - Xe mô tô biển số 60C1-395.00 do Bùi Quốc V, sinh năm 1991, địa chỉ ấp D, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai đứng tên sở hữu. Anh Dương Tấn T3 (con trai ông G) mua xe của một người tên Hà Duy Q ngụ xã T, huyện V (bạn làm chung công ty), không làm giấy tờ mua bán, sau đó đem gửi nhờ tại phòng trọ của ông G. Ngày 05/11/2021, ông G lấy xe đi đón vợ rồi bị N1 đánh thương tích. Hiện chưa làm việc được với anh Bùi Quốc V và anh Hà Duy Q.
- * Xử lý vật chứng:
- - Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả xe mô tô biển số 67C1-748.13 cho ông Mai Văn H1.
- - Bản án số 59/2023/HSST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu đã giải quyết đối với các vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gậy ba khúc bằng kim loại màu trắng Inox, cán bọc nhựa màu đen, gậy được kéo dài ra thành 03 khúc thẳng liền nhau có chiều dài 62cm và thu ngắn vào bên trong thành 01 đoạn có chiều dài 22cm (của Trần Thanh M);
- 01 gậy ba khúc bằng kim loại màu trắng Inox, cán bọc nhựa màu đen, gậy được kéo dài ra thành 03 khúc thẳng liền nhau có chiều dài 62cm và thu ngắn vào bên trong thành 01 đoạn có chiều dài 22cm; 01 khóa số tám bằng kim
4
loại màu trắng có in chữ Bộ C1; 01 roi điện dài 16cm ngang 3,5cm bằng nhựa màu đen có in chữ 12000K VOLT 928TYPE; 01 băng đeo tay màu đỏ viền vàng có in chữ “CLB hỗ trợ nhân dân PCTP Thạnh Phú” (do anh Nguyễn Tài T2 giao nộp).
- + Trả lại cho Đồng Văn N1: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A 71 màu xanh, không gắn sim điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện V, tỉnh Đồng Nai 01 điện thoại Samsung Galaxy A30S màu xanh tím, vỏ màu đỏ, chứa sim số 0965980650 của Nguyễn Tài T2; 01 điện thoại di động hiệu VIVO F1.824 ASPH màu đen, chứa sim số 0815305426 của Trần Thanh M; 01 xe mô tô biển số 60C1-395.00 do Dương Văn G điều khiển để xử lý theo thẩm quyền.
- * Về trách nhiệm dân sự: Đồng Văn N1 phải bồi thường cho ông Dương Văn G số tiền 67.960.000 đồng tại Bản án số 59/2023/HS-ST. Quá trình điều tra ông G yêu cầu Trần Thanh M bồi thường cho ông G số tiền 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình phục hồi điều tra không xác định được nơi cư trú hiện tại của ông G nên không thu thập được tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu bồi thường của ông G.
Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra, bị can Trần Thanh M đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã, tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can M.
Cáo trạng số 109/CT-VKSVC ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Thanh M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 (phạm tội lần đầu), Điều 38, khoản 2 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Trần Thanh M phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo mức án từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) tháng tù.
- - Trách nhiệm dân sự: Giành quyền khởi kiện cho ông Dương Văn G trong vụ án dân sự khi có yêu cầu.
- - Xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Trả cho Trần Thanh M 01 điện thoại di động hiệu VIVO F1.824 ASPH màu đen, chứa sim số 0815305426 do không sử dụng vào mục đích phạm tội;
- Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 05/11/2021, tại ấp Ông H, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, xuất phát từ việc ông Dương Văn G có hành vi trêu ghẹo bà Từ Thị N nên Đồng Văn N1 (con rể bà N) cùng Trần Thanh M đuổi theo xe ông G. N1 dùng chân đạp vào ống pô xe mô tô khiến ông G bị ngã đập vai phải xuống nền đất. Sau đó, N1 bẻ tay phải ông G ra phía sau rồi dùng tay, chân đánh nhiều cái vào vai, cổ, hông và sườn bên phải của ông G gây thương tích tỷ lệ 34%. Trần Thanh M cầm cây ba khúc yêu cầu ông G ngồi im khi N1 đánh ông G.
Trần Thanh M tuy không phải là người trực tiếp gây thương tích cho ông Dương Văn Văn G, tuy nhiên, M đã có hành vi dùng cây ba khúc yêu cầu ông G ngồi im để N1 cố ý gây thương tích cho ông Dương Văn G với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 34% nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với vai trò đồng phạm giúp sức. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, bị hại cũng có một phần lỗi là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại. Tuy nhiên, trong vụ án này, bị hại có một phần lỗi, xuất phát từ việc bảo vệ mẹ vợ Đồng Văn N1 nên bị cáo mới có hành vi phạm tội; tổn thương chính của bị hại do bị hại bị ngã xe chứ không phải do các bị cáo trực tiếp đánh. Do đó, cần có một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo.
6
Bị cáo không có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo sau khi phạm tội đã bỏ trốn và bị bắt truy nã nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung về án treo; khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với bị cáo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
[6] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại: ông Dương Văn G có quyền khởi kiện bị cáo bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[7] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả cho Trần Thanh M 01 điện thoại di động hiệu VIVO F1.824 ASPH màu đen, chứa sim số 0815305426 do không sử dụng vào mục đích phạm tội;
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 47, 48, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố bị cáo Trần Thanh M phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2024.
7
- Về xử lý vật chứng: Trả cho Trần Thanh M 01 điện thoại di động hiệu VIVO F1.824 ASPH màu đen, chứa sim số 0815305426 do không sử dụng vào mục đích phạm tội;
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Nhung |
8
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh M
