|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày: 27-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Vân Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bền .
- Ông Đỗ Thanh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Liễu Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST- HS, ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Hoài K (tên gọi khác T1), sinh ngày 23/11/1993, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Kiên T2 và bà Nguyễn Thị T3; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Kim H và 01 con chung sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 15/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Nguyễn Thị N, sinh năm 1991; Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- + Huỳnh Thị H1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- + Nguyễn Văn D, sinh năm 1961; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- + Nguyễn Thị Bạch Y, sinh năm 1982; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Phan Kiên T2, sinh năm 1967; Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- + Lê Nguyễn Mai K1, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Ấp B, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- + Lê Văn N1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Hoài K là người nghiện ma túy, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên K nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người dân để cướp giật. Để thực hiện ý định này, vào ngày 11/01/2024 K lấy xe mô tô hai bánh kiểu dáng Wave S biển số 63B9-319.55 (xe thuộc sở hữu của ông Phan Kiên T2 cha ruột K) rồi dùng đất bùn bôi lên dãy số 319.55 của biển số xe với mục đích tránh bị phát hiện rồi K điều khiển xe này chạy trên các tuyến đường thuộc xã Đ và xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thực hiện 04 vụ cướp giật tài sản là điện thoại di động của người dân đi trên đường. Cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/01/2024, Phan Hoài K điều khiển xe mô tô biển số 63B9-319.55 trên đường T hướng từ chợ V - ngã ba Đ. Khi đang lưu thông đến khu vực thuộc ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì K nhìn thấy chị Nguyễn Thị N đang điều khiển xe mô tô Vision màu đỏ biển số 63B3-732.86 lưu thông phía trước cùng chiều có để 01 chiếc điện thoại di động S A33 màu xanh ở túi áo khoác bên trái nên K muốn giật chiếc điện thoại này. Khi thấy chị N dừng xe phía trước tiệm quảng cáo “Phụng Thi” tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang để giao thức ăn nhanh cho khách. K điều khiển xe 63B9-319.55 áp sát về bên trái của chị N rồi dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại trong túi áo khoác của chị N nhưng không giật được, làm chiếc điện thoại rơi ra ngoài. K điều khiển xe bỏ chạy, chị N đến Công an xã Đ trình báo sự việc.
Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 40 phút, sau khi không giật được điện thoại của chị N thì K tiếp tục điều khiển xe 63B9-319.55 chạy về hướng ngã ba Đ rồi rẽ vào đường đan hướng đường T đi về xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, khi vừa qua “Cầu Lâm Ấp Dầu” thuộc ấp D, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì K nhìn thấy chị Huỳnh Thị H1 đang điều khiển xe mô tô biển số 63B3-154.94 phía trước cùng chiều, trong túi áo khoác bên trái chị H1 có để chiếc điện thoại Vivo Y21 màu xanh. K điều khiển xe vượt lên và áp sát về bên trái của chị H1, dùng tay phải giật chiếc điện thoại và tăng ga bỏ chạy. Chị H1 đến Công an xã Đ trình báo sự việc.
Vụ thứ ba: Sau khi giật được chiếc điện thoại của chị Huỳnh Thị H1 thì K tiếp tục điều khiển xe 63B9-319.55 rẽ qua đường huyện lộ 35, hướng L - T. Lúc này, khoảng 12 giờ 16 phút, khi K đi đến đoạn thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì K nhìn thấy ông Nguyễn Văn D đang điều khiển xe mô tô hai bánh kiểu dáng dream, chạy ngược chiều với K, trên túi áo bên ngực trái của ông D có để chiếc điện thoại di động hiệu S màu đen nên K quay xe lại chạy theo phía sau ông D, vượt lên áp sát về bên trái ông D, dùng tay phải giật chiếc điện thoại rồi tẩu thoát. Ông D đến Công an xã L trình báo sự việc.
Vụ thứ tư: Sau khi giật được chiếc điện thoại của ông D thì vào khoảng 12 giờ 30 phút, K tiếp tục điều khiển xe 63B9-319.55 qua cầu L, khi đến đoạn thuộc ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì K nhìn thấy chị Nguyễn Thị Bạch Y đang điều khiển xe mô lưu thông phía trước cùng chiều. K nhìn thấy trong túi quần phía trước bên trái chị Y có để chiếc điện thoại Oppo màu xanh nên K vượt lên về bên trái chị Y, dùng tay phải giật chiếc điện thoại và tăng ga bỏ chạy về hướng xã V. Chị Y đến Công an xã L trình báo sự việc.
Sau khi giật được điện thoại, K mang 02 chiếc điện thoại Vivo và O bán cho một cửa hàng điện thoại (không nhớ địa chỉ) tại khu vực gần Khu công nghiệp G, tỉnh Bến Tre được số tiền 1.700.000 đồng. Đối với điện thoại S màu đen K cất giấu ở nhà để sử dụng. K dùng số tiền bán điện thoại tiêu xài cá nhân.
Vật chứng, đồ vật thu giữ gồm:
- - 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A33 màu xanh do bị hại Nguyễn Thị N giao nộp.
- Vật chứng thu khi bắt giữ Phan Hoài K gồm:
- + 01 (một) xe mô tô hai bánh màu đỏ-đen, biển số 63B9-319.55.
- + 01 (một) nón bảo hiểm màu đỏ, có chữ “TÔN HOA SEN”.
- + Tiền việt N2 335.000 đồng.
- Vật chứng thu khi khám xét khẩn cấp nơi ở của K gồm:
- + 01 (một) nón lưỡi trai màu xám, có dính sơn màu xanh đã qua sử dụng.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, số Imei: 351389780358927, không gắn thẻ sim.
- Vật chứng là dữ liệu điện tử thu giữ gồm:
- + 01 đoạn clip có thời gian từ 11 giờ 38 phút đến 11 giờ 42 phút ngày 11/01/2024 ghi lại hình ảnh đối tượng cướp giật tài sản là điện thoại di động xảy ra tại ấp D, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 11/01/2024.
- + 01 đoạn clip có thời gian từ 12 giờ 16 phút 26 giây đến 12 giờ 16 phút 01 giây và 01 đoạn clip có thời gian từ 12 giờ 16 phút 08 giây đến 12 giờ 17 phút 07 giây ngày 11/01/2024, ghi lại hình ảnh đối tượng cướp giật tài sản là điện thoại di động xảy ra tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 11/01/2024.
- + 01 đoạn clip có thời gian từ 12 giờ 29 phút 59 giây đến 12 giờ 30 phút 15 giây ngày 11/01/2024, ghi lại hình ảnh đối tượng cướp giật tài sản là điện thoại di động xảy ra tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 11/01/2024.
Tại bản kết luận định giá số 18/KL-HĐĐG ngày 24/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, số Imei: 351389780358927, tài sản thu hồi được có giá là 1.500.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A33 màu xanh, tài sản thu hồi được có giá là 3.000.000 đồng.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, tài sản không thu hồi được, bị hại không cung cấp được hóa đơn chứng từ, tài sản có giá trị thấp nên Hội đồng không có cơ sở xác định được giá trị.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo Y21 màu xanh, tài sản không thu được, bị hại không cung cấp được hóa đơn chứng từ, tài sản có giá trị thấp nên Hội đồng không có cơ sở xác định được giá trị.
Tổng tài sản thiệt hại có giá trị 4.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSCT ngày 09/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Phan Hoài K về tội “Cướp giật tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Hoài K phạm tội “Cướp giật tài sản”. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, được qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 32, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Hoài K từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bạch Y yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị điện thoại Oppo màu xanh là 3.000.000 đồng, đã bồi thường xong. Các bị hại Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị H1, Nguyễn Văn D không yêu cầu bị cáo bồi thường. Vê xử lý vật chứng: tịch thu và tiêu huỷ 01 nón lưỡi trai màu xám, có dính sơn màu xanh; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 335.000 đồng.
Bị cáo Phan Hoài K khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo K nói lời sau cùng: bị cáo hứa không tái phạm, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được sớm về với gia đình, chăm sóc con bị cáo đang bị bệnh nặng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu thu thập trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 11/01/2024, tại ấp T và ấp D, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang; tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Phan Hoài K có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 63B9-319.55 là phương tiện nguy hiểm thực hiện hành vi cướp giật 01 chiếc di động hiệu Samsung Galaxy A33 màu xanh của chị Nguyễn Thị N; 01 chiếc điện thoại Vivo Y21 màu xanh của chị Huỳnh Thị H1; 01 chiếc điện thoại di động hiệu S màu đen của ông Nguyễn Văn D và 01 chiếc điện thoại Oppo màu xanh của chị Nguyễn Thị Bạch Y. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 4.500.000 đồng. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội cướp giật tài sản qui định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an địa phương, gây tâm lý hoang mang cho nhiều người. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Về mặt ý thức chủ quan, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi trái pháp luật, chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng bị cáo lại liên tục thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác vào ban ngày trong khi các bị hại đang điều khiển xe mô tô, nhằm để thoã mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Điều này thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm bằng các chế tài của pháp luật hình sự mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[4] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các tài sản đã thu hồi lại trả lại cho người bị hại; bị cáo có con bị bệnh khuyết tật dạng vận động, mức độ nặng. Tuy nhiên, bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự cho nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A33 màu xanh là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chị N là đúng qui định.
[5.2] Đối với 01 xe mô tô hai bánh màu đỏ-đen, biển số 63B9-319.55. Quá trình điều tra xác định xe biển số 63B9-319.55 do chị Lê Nguyễn Mai K1, sinh năm 1995, nơi thường trú: Ấp B, xã T, thành phố M, Tiền Giang đứng tên. Chị K1 đã tặng, cho xe này cho cha ruột là ông Lê Văn N1. Ông N1 đã bán xe này lại cho ông Phan Kiên T2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ông N1 không có yêu cầu gì đối với xe 63B9-319.55. Việc K sử dụng xe làm phương tiện đi cướp giật tài sản thì ông T2 không biết và 01 nón bảo hiểm màu đỏ, có chữ “TÔN HOA SEN” cũng thuộc sở hữu hợp pháp của ông T2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại ông T2 là đúng qui định.
[5.3] 01 (một) điện thoại di động hiệu S màu đen, số Imei: 351389780358927, không gắn thẻ sim. Đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại ông D là đúng qui định.
[5.4] Bị cáo không có ý kiến, yêu cầu gì đối với 01 (một) nón lưỡi trai màu xám, có dính sơn màu xanh không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu huỷ.
[5.5] Số tiền Việt Nam 335.000 đồng là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bạch Y yêu cầu bị can Phan Hoài K bồi thường giá trị điện thoại Oppo màu xanh là 3.000.000 đồng, ông Phan Kiên T2 là cha ruột của K đã bồi thường xong. Các bị hại Nguyễn Thị N, Huỳnh Thị H1, Nguyễn Văn D không yêu cầu K bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, Điều 32, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Hoài K phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Hoài K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 12/01/2024.
Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) nón lưỡi trai màu xám, có dính sơn màu xanh; Trả lại cho bị cáo số tiền Việt Nam 335.000 đồng (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang)
Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Hoài K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phạm Vân Trang |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang về hình sự - cướp giật tài sản
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Hoài K - Cướp giật
