Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HNGĐ-ST

Ngày 25/12/2023

"Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Hữu Tăng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Viết Thủy.

Ông Hoàng Xuân Trường.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2023, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2023/QĐ-ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, vụ án giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Minh T, sinh năm 1996.

Nguyên quán: Chỉ T1, Đức T2, T, Hưng Yên.

Nơi ĐKTT: Đội 6, xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ hiện tại: Số A, đường Q, quận L, thành phố Đ, Đài Loan.

2. Bị đơn: Anh Trần Nam A, sinh năm 1994.

Nơi ĐKTT: Đội 6, xã D, huyện T, Hưng Yên.

Hiện đang ở: Số E, đoạn 1, đường W, ngõ B, quận R, thành phố Đ, Đài Loan.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Trần Đức H, sinh ngày 11/12/2014.

Nơi ĐKTT: Đội 6, xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện theo pháp luật của cháu H: Anh Trần Nam A là bố đẻ của cháu H.

4. Người làm chứng:

+ Bà Vũ Thị T3, sinh năm: 1965.

HKTT: Đội 6, D, T, Hưng Yên.

+ Bà Bùi Thị Ú, sinh năm: 1972.

1

HKTT: Chỉ T1, Đức T2, T, Hưng Yên.

Các đương sự và người làm chứng đều vắng mặt và có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Phạm Thị Minh T cũng như văn bản của bị đơn anh Trần Nam A gửi về Tòa án trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh chị được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên vào ngày 30/5/2014. Sau khi được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống, anh chị chung sống cùng nhau tại nhà anh A. Cuộc sống hạnh phúc của anh chị được thời gian đầu hạnh phúc. Sau đó do bất đồng về quan điểm sống, lối sống, tính cách, kinh tế khó khăn, anh chị kết hôn với nhau khi cả hai tuổi đời con trẻ nên thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau. Gia đình hai bên có khuyên ngăn hòa giải cho anh chị nhưng không được. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay cả chị T và anh A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T làm đơn xin ly hôn, anh A đồng ý.

Về con chung: Anh chị có một con chung là cháu Trần Đức H, sinh ngày 11/12/2014. Từ khi anh chị đi lao động tại Đài Loan cho đến nay cháu H vẫn sống cùng ông bà nội tại đội 6, D, T, Hưng Yên. Được ông bà nội chăm sóc chu đáo, ly hôn cả chị T và anh A đều thống nhất giao cháu H cho anh A được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến năm cháu H đủ 18 tuổi, anh A không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị T cũng đồng ý.

Đối với chị T thời gian tới chị T tiếp tục đi lao động tại Đài Loan chị có ủy quyền cho mẹ đẻ chị là bà Bùi Thị Ú nhận thay chị các văn bản tố tụng của Tòa án.

Anh A hiện tại không có mặt tại Việt Nam nên anh có nhờ mẹ đẻ anh là bà Vũ Thị T4 thay mặt anh chăm sóc cháu H và ủy quyền cho bà T4 nhận thay anh các văn bản của Tòa án giao cho anh.

Về tài sản nợ nần và các vấn đề khác: Anh A và chị T đều xác định không có gì, không đề nghị giải quyết.

Cả anh A và chị T đều yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng bà Bùi Thị Ú và bà Vũ Thị T4 là mẹ đẻ của chị T và mẹ đẻ của anh A trình bày:

Về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, cũng như mâu thuẫn vợ chồng như anh A và chị T trình bày, hai bà đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh chị. Hai bà nhất trí với việc ủy quyền của chị T và anh

2

A về việc nhận thay anh chị văn bản tố tụng của Tòa án. Bà T4 là mẹ anh A cũng nhất trí thay mặt anh chăm sóc cháu H trong thời gian anh không có ở nhà. Bà Ú và bà T4 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

Cháu Trần Đức H là con của chị T và anh A có quan điểm xin được ở với bố và tiếp tục ở tại nhà ông bà nội. Cháu có quan điểm đề nghị T5 án giải quyết vắng mặt do cháu phải đi học không đến Tòa án làm việc được.

Tại công văn số 30582/QLXNC-P3 ngày 14/11/2023 của Cục Q Bộ C về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của 02 tường hợp cung cấp nội dung: Chị Phạm Thị Minh T xuất cảnh ngày 12/11/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Trần Nam A xuất cảnh ngày 05/02/2020 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự, người làm chứng đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Minh T.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh A, cả anh A và chị T đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại đội F, xã D, huyện T, tỉnh Hưng Yên và hiện chị T và anh A đang ở Đài Loan, không có mặt tại Việt Nam nên quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Minh T, Hội đồng xét xử xét thấy:

3

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh A là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ năm 2019 đến nay, trong thời gian vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai, cả chị T và anh A đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị T làm đơn xin ly hôn, anh A đồng ý. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh A đã trở lên trầm trọng, mục đích Hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xử cho chị T được ly hôn anh A là có căn cứ.

[2.2]. Về con chung: Anh chị cùng xác định có một con chung là cháu Trần Đức H, sinh ngày 11/12/2014. Chị T, anh A cũng như cháu H đều đề nghị Tòa án giao cháu H cho anh A trực tiếp chăm sóc giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Xét thấy việc giao cháu H cho anh A trực tiếp chăm sóc giáo dục phù hợp với quan điểm của các đương sự, phù hợp với cuộc sống ổn định hiện tại của cháu H. Mặt khác bố mẹ anh A cũng nhất trí với việc thay mặt cho anh A chăm sóc cháu H chu đáo, tạo mọi điều kiện tốt nhất mọi mặt để cháu H phát triển. HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T cũng như anh A, giao cháu H cho anh A trực tiếp chăm sóc giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh A không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị T và anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 229, Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 73, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị Minh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Minh T được ly hôn anh Trần Nam A.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Đức H, sinh ngày 11/12/2014. Hiện cháu đang ở với bà Vũ Thị T4 cho anh A trực tiếp chăm sóc giáo dục cho đến khi đủ

4

18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh A không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Tạm giao cháu H cho bà Vũ Thị T4 (mẹ đẻ anh A) trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi anh A về Việt Nam, bà T4 có trách nhiệm giao cháu H cho anh A.

Vì lợi ích của con chung, chị T và anh A có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản: Chị T, anh A đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Minh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn. Đối trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000005 ngày 27/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Chị T và anh A có quyền kháng cáo trong thời một tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - UBND xã Dị Chế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Tăng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2023/HNGĐ-ST ngày 25/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 117/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger