Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 25-8-2023

V/v tranh chấp ly hôn,

tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lương Văn Cẩu
  2. Ông Liêu Văn Lộc

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2023/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phượng H, sinh năm: 1991.
  2. Địa chỉ: Tổ B, ấp H, thị trấn A, huyện C, An Giang (có mặt).

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm: 1990
  4. Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, An Giang. (vắng mặt).

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  6. Bà Dương Thị S, sinh năm: 1958

    Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 10/03/2023, đơn yêu cầu ngày 25/8/2023 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phượng H trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá T chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay được 6 năm, hôn nhân do mai mối, có tổ chức cưới với nhau và đăng ký kết hôn ngày 8 tháng 11 năm 2017 tại UBND xã H, huyện C, An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẩn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống nguyên nhân do tình cảm vợ chồng không còn, bất đồng quan điểm không ai quan tâm chăm sóc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm. Hai bên đã sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2022 đến nay. Hiện tại chị xác định không còn tình cảm với anh T. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Bá T.

-Về con chung: có 02 con chung tên là Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 9/3/2020 và Nguyễn Ngọc Bảo T2 sinh ngày 7/12/2021. Hiện các cháu đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, cháu T2, yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

-Về tài sản chung: Trong ngày cưới dưới sự chứng kiến của hai bên họ hàng, vợ chồng chị được cha mẹ hai bên cho 7 cây vàng 24k (trong đó bên nhà trai cho 5 cây vàng, nhà gái cho 2 cây vàng). Sau ngày cưới 7 cây vàng 24k do mẹ chồng là bà Dương Thị S và anh Nguyễn Bá T quản lý và tự sử dụng hết. Sau ly hôn chị yêu cầu mẹ chồng là bà Dương Thị S và anh Nguyễn Bá T phải trả lại cho chị số vàng trên. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay chị H làm đơn yêu cầu rút lại yêu cầu chia tài sản chung đối với số vàng 7 cây vàng 24k, chị không yêu cầu chia số vàng này.

-Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Đối với bị đơn anh Nguyễn Bá T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Bá T vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị H. Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của anh T tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì anh T hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, An Giang, nhưng anh T vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai được.

-Tại bản tự khai ngày 18/4/2023 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị S trình bày: Số vàng 7 cây vàng 24k là của hồi môn của Nguyễn Bá T và Nguyễn Thị Phượng H. Trong đó nhà trai cho vợ chồng T và H 5 cây vàng 24k, nhà gái cho 2 cây vàng 24k. Khi cho vàng trong đám cưới, T và H giữ số vàng này. Sau đó vợ chồng T và H có nói với bà là bán số vàng trên lấy tiền gửi tiết kiệm. Sau đó, T và H có đầu tư cổ phiếu thua lỗ hết số vàng trên. Vì vậy, bà không có giữ số vàng 7 cây vàng 24k của T và H. Do T và H đầu tư cổ phiếu thua lỗ nên thiếu nợ nhiều người. Bà còn cho vợ chồng T và H mượn tổng cộng 38 cây vàng. Bà đã bán 13.600m² đất ruộng, vay Ngân hàng N- giao dịch V, Quỹ tín dụng M 900.000.000 đồng và cho T và H mượn thêm tiền mặt, tổng cộng là 3.100.000.000 đồng để trả nợ. Hiện nay T và H chưa trả cho bà. Bà cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Nay H yêu cầu bà giữ 7 cây vàng 24k và yêu cầu bà trả lại, bà không đồng ý.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, cho chị H ly hôn với anh T. Về con chung: Đề nghị giao cháu T1 và cháu T2 cho chị H nuôi dưỡng, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị H rút lại yêu cầu chia tài sản nên không đặt ra xem xét. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Bá T là bị đơn và bà Dương Thị S là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh T, bà S vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Bá T và bà Dương Thị S theo quy định pháp luật.
  2. [2] Về nội dung vụ án:
    1. [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phượng H và anh Nguyễn Bá T kết hôn với nhau vào năm 2017, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
    2. Theo đơn chị H trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẩn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống nguyên nhân do tình cảm vợ chồng không còn, bất đồng quan điểm không ai quan tâm chăm sóc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và kéo dài thêm. Hai bên đã sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2022 đến nay. Hiện tại chị xác định không còn tình cảm với anh T. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn Bá T. Xét thấy với thời gian ngắn chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẩn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẩn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh T cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị H. Hiện tại chị H xác định không còn tình cảm với anh T. Tại phiên tòa hôm nay chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị H và anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

    3. [2.2]Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phượng H và anh Nguyễn Bá T có 02 con chung tên là Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 9/3/2020 và Nguyễn Ngọc Bảo T2 sinh ngày 7/12/2021. Hiện các cháu đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, cháu T2, yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Xét thấy từ nhỏ đến nay các cháu đều sống chung với chị H, được chị và gia đình chăm sóc, cuộc sống hiện tại tương đối ổn định. Do đó để không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hai cháu, nghĩ nên để chị H được tiếp tục nuôi cháu T1 và cháu T2 là phù hợp. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.
    4. [2.3]Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện ly hôn ngày 10/3/2023 và tại phiên tòa hôm nay chị H yêu cầu anh Nguyễn Bá T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Xét thấy nghĩa vụ nuôi con chung là của cả cha lẫn mẹ, người nào không phải nuôi con thì phải cấp dưỡng, việc chị H yêu cầu nuôi con và có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp. Do đó nghĩ nên chấp nhận yêu của chị H, buộc anh T phải cấp dưỡng nuôi cháu T1 và cháu T2 theo quy định pháp luật bằng ½ mức lương cơ sở trên tháng, tính theo từng thời điểm mức lương nhà nước quy định cho đến khi cháu T1 và cháu T2 tròn 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 25/8/2023, tiền cấp dưỡng do chị H đại diện nhận.
    5. [2.4]Về tài sản chung: Theo chị H trình bày trong ngày cưới dưới sự chứng kiến của hai bên họ hàng, vợ chồng chị được cha mẹ hai bên cho 7 cây vàng 24k (trong đó bên nhà trai cho 5 cây vàng, nhà gái cho 2 cây vàng). Sau ngày cưới 7 cây vàng 24k do mẹ chồng là bà Dương Thị S và anh Nguyễn Bá T quản lý và tự sử dụng hết. Sau ly hôn chị yêu cầu mẹ chồng là bà Dương Thị S và anh Nguyễn Bá T phải trả lại cho chị số vàng trên. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay chị H rút lại yêu cầu chia tài sản chung đối với số vàng 7 cây vàng 24k, chị không yêu cầu chia số vàng này. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Chị được quyền khởi kiện chia tài sản sau nếu có yêu cầu.
    6. [2.5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Phượng H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
    7. [2.6]Về án phí: Do yêu cầu của Nguyễn Thị Phượng H được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phượng H. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Phượng H và anh Nguyễn Bá T.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số: 10/KH, ngày 8/11/2017 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Có 02 con chung tên là Nguyễn Thiện T1, sinh ngày 9/3/2020 và Nguyễn Ngọc Bảo T2 sinh ngày 7/12/2021. Hiện các cháu đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H được nuôi dưỡng cháu T1, cháu T2, anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật bằng ½ mức lương cơ sở theo từng thời điểm thi hành án cấp cho đến khi cháu T1 và cháu T2 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng lần đầu vào ngày 25/8/2023, tiền cấp dưỡng do chị H đại diện nhận. Chị H phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh T được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.
  4. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phượng H rút lại yêu cầu chia tài sản chung do đó Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của chị Nguyễn Thị Phượng H. Chị được quyền khởi kiện chia tài sản lại nếu có yêu cầu.
  5. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Phượng H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
  6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phượng H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 2.900.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004189 ngày 23/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị H được nhận lại số tiền 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm ngàn đồng).
  7. Về kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Phượng H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25.8.2023). Anh Nguyễn Bá T và bà Dương Thị S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
  8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 117/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu Nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger