TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày: 24-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ Thủy và ông Nguyễn Kim Thành.
Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Ny - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 9 năm 2024; đối với bị cáo:
Trần Đình T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/8/2001; tại Đà Nẵng; giới tính: Nam; nơi cư trú: Tổ G, phường A, quận S, TP .; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Đình P, sinh năm 1981 và bà Trần Thị K, sinh năm 1986.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S. Có mặt.
Người chứng kiến: Ông Huỳnh M, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 03/6/2024, Trần Đình T đi chơi tại quán Bar N (địa chỉ: B đường Đ, phường T, quận H, TP .) thì gặp một thanh niên (không quen biết, không rõ nhân thân, lai lịch) có giới thiệu là có bán ma túy nên T đã nảy sinh ý định và mua của người thanh niên này 03 viên ma tuý loại thuốc lắc và “nửa hộp năm” ma tuý loại Ketamine với số tiền 4.200.000 đồng. Sau khi nhận ma tuý, T đưa về nhà tại tổ G, phường A, quận S, TP . để cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 45 phút ngày 04/6/2024, T lấy khẩu trang màu trắng gói bao ni lông chứa ma tuý trên, rồi cầm tay trái, điều khiển xe mô tô nhãn Honda Wave, BKS: 43E1-067.32 đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến ngã ba đường T và đường T, quận S, TP.Đà Nẵng thì bị Tổ công tác C2-911 Công an T2 đang tiến hành tuần tra phòng chống tội phạm phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe để kiểm tra. Khi bị kiểm tra, T vứt 1 mảnh của chiếc khẩu trang màu trắng chứa bên trong ba viên nén là ma tuý thuốc lắc và chất tinh thể màu trắng là ma tuý ketamine đang cầm ở tay trái xuống đường ngay vị trí đang đứng, nên bị tổ tuần tra C2-911 Công an TP.Đà Nẵng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang
Kết quả test ma tuý: T dương tính với ma túy .
* Tang vật thu giữ
- - 01 (một) bao ni lông chứa 03 (ba) viên nén màu xám, hình vuông và chất tinh thể rắn, màu trắng, nghi là ma tuý, ở giữa bao ni lông được hàn kín (niêm phong ký hiệu A);
- - 01 (một) mảnh của chiếc khẩu trang, màu trắng;
- - 01 (một) xe mô tô nhãn Honda Wave, BKS: 43E1-067.32 do Trần Đình T làm chủ sở hữu;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, mặt sau bị vỡ, số Imei: 353890109332053 gắn sim số: 0763.622.025
Tại Kết luận giám định số: 447 ngày 11/6/2024 của Phòng K1 Công an T3.Đà Nẵng, kết luận:
- - Viên nén màu xám, hình vuông ký hiệu A1 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA; khối lượng mẫu A1: 1,485gam.
- - Tinh thể rắn màu trắng ký hiệu A2 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine; khối lượng mẫu A2: 1,670 gam.
Theo Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/8/2018 của Chính phủ việc tính tỷ lệ tổng khối lượng ma túy được xác định như sau: 1,485 gam ma túy loại MDMA: (1,485 gam x 100%)/5 gam = 29,7% ; 1,670 gam ma túy loại Ketamine : (1,670 gam x 100%)/20 gam = 8,35%. Tổng tỷ lệ % hai chất ma túy là: 38,05%. Nên thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKS - ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trần Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị:
- - Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Trần Đình T từ 24 tháng đến 30 tháng tù giam.
- - Về hình phạt bổ sung: Không.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS; Tuyên:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số: 447 ngày 11/6/2024 của Phòng K1 Công an T2 có chữ ký giám định viên và điều tra viên bên trong chứa mẫu A1 và mẫu A2 là ma túy còn lại sau khi giám định cùng bao gói mẫu và 01 (một) mảnh của chiếc khẩu trang màu trắng.
Trả cho Trần Đình T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, mặt sau bị vỡ nát, số Imei: 353890109332053, gắn sim số: 0763.622.025.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn Honda Wave, BKS: 43E1-067.32, số máy: HC12E2973286, số khung: RLHHC09037Y263088. Qua xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe có BKS: 43E1-067.32 có kết quả như sau: BKS: 43E1-067.32, số máy: HC12E2973286, số khung: RLHHC1202BY173231, do ông Trần T1 (sinh năm: 1972, HKTT: K2, H, TP.Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu). Qua lấy lời khai của ông T1 xác nhận, vì ông làm nghề môi giới xe cũ, nên ông thường đứng tên giùm rất nhiều xe cho các cửa hàng xe cũ, ông không nhớ cụ thể chiếc xe trên là ông đứng giùm cho cửa hàng xe máy cũ nào, do thời gian quá lâu và thời điểm đó ông đứng tên giùm cho nhiều cửa hàng. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an quận S tiếp tục tạm giữ, xác minh và xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người chứng kiến cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 00 giờ 05 phút ngày 04/6/2024, tại ngã ba T - T, phường A, quận S, TP ., Trần Đình T đang có hành vi cất giấu 01 gói ni lông bên trong chứa 03 (ba) viên nén màu xám là ma tuý loại MDMA với khối lượng 1,485gam và 1,670 gam ma tuý loại Ketamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác C2-911 Công an TP.Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 105/CT-VKS - ST ngày 09 tháng 9 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án thì thấy: Ma túy hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được các tác hại đó, nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, xem thường pháp luật và để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.
[4]. Xét hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Trần Đình T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn rõ ràng, tỏ ra biết ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là bộ đội xuất ngũ nên cần vận dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng:
[6.1] Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số: 447 ngày 11/6/2024 của Phòng K1 Công an T2 có chữ ký giám định viên và điều tra viên bên trong chứa mẫu A1 và mẫu A2 là ma túy còn lại sau khi giám định cùng bao gói mẫu và 01 (một) mảnh của chiếc khẩu trang màu trắng - Là tang vật nên cần tiêu hủy.
[6.2] Đối với 01 (một) mảnh của chiếc khẩu trang, màu trắng không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
[6.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, mặt sau bị vỡ nát, số I: 353890109332053 gắn sim số: 0763.622.025 của Trần Đình T, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
(Toàn bộ vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024).
[6.4] Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn Honda Wave, BKS: 43E1-067.32, số máy: HC12E2973286, số khung: RLHHC09037Y263088. Qua xác minh thông tin dữ liệu đăng ký xe có BKS: 43E1-067.32 có kết quả như sau: BKS: 43E1-067.32, số máy: HC12E2973286, số khung: RLHHC1202BY173231, do ông Trần T1, sinh năm 1972; HKTT: K H, H, TP.Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu, nên Cơ quan CSĐT Công an quận S tiếp tục tạm giữ, xác minh và xử lý sau là có căn cứ.
[7] Đối với đối tượng bán ma túy cho T hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên tách ra xử lý sau là có cơ sở.
[8] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T đã bị Công an quận S xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
[9] Án phí HS-ST: Bị cáo phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Đình Trọng phạm t: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Trần Đình T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (04/6/2024).
2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS; Tuyên:
2.1 Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong số: 447 ngày 11/6/2024 của Phòng K1 Công an T2 có chữ ký giám định viên và điều tra viên bên trong chứa mẫu A1 và mẫu A2 là ma túy còn lại sau khi giám định cùng bao gói mẫu và 01 (một) mảnh của chiếc khẩu trang màu trắng.
2.2 Trả cho Trần Đình T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, mặt sau bị vỡ nát, số Imei: 353890109332053, gắn sim số: 0763.622.025.
(Toàn bộ vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024).
3/ Án phí HS-ST: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Đình T phải chịu 200.000 đồng.
Án xử công khai, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Đông Thanh |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 24/9/2024, TAND quận Sơn Trà xét xử vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Đình T.
