Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI

Bản án số: 117/2024/HSST

Ngày 24 tháng 6 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán.

Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dung và Bà Trần Thị Thanh Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ánh – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Bà Mai Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm và điểm cầu Trại tạm giam số 1 của Công an thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Trung V. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1978. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Khu S Thị trấn T, huyện T, tỉnh H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Nguyễn Trung X. Sinh năm 1951. Họ và tên mẹ: Hoàng T.H. Sinh năm 1952. Họ và tên vợ: Nguyễn Phương D. Sinh năm 1984. Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Danh chỉ bản số 150 lập ngày 28/3/2024 tại Công an quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Nhân thân: Không có Tiền án, tiền sự.

Tạm giữ: 21/3/2024 Tạm giam ngày: 30/3/2024

Hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố Hà Nội.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, tổ công tác Công an phường T làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn, khi đi đến trước số 12 ngõ 14 H, phường T, quận K, Hà Nội thì phát hiện Nguyễn Trung V bước xuống từ xe ô tô Huyndai Accent màu đen, BKS: 34A - 65289 do Nguyễn Tùng L điều khiển có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Công an thu giữ trong túi quần bên phải (phía trước) của V: 01 túi nilon màu trắng kích thước 4 x 4cm, bên trong có chứa 03 viên nén hình lục giác màu xám và 02 túi nilon màu trắng kích thước 2 x 2cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong số tang vật trên và đưa V về trụ sở để làm rõ.

Ngoài ra, Công an còn thu giữ của V: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu xám, bên trong lắp sim số 0852761xxx đã qua sử dụng; thu giữ của Nguyễn Tùng L: 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu đen, BKS: 34A - 65289 có một số vết xước nhỏ, xe đang sử dụng, không rõ chất lượng xe; 01 điện thoại Iphone XS màu vàng, lắp sim số 0962551990, đã qua sử dụng. (BL 27; 84)

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Trung V nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 2278/KL-KTHS ngày 30/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilông đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 1,192 gam; 03 viên nén màu xám hình lục giác bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,479 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trung V nhận tội và khai: Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 20/3/2024, Nguyễn Trung V đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi từ D - bạn xã hội (không rõ nhân thân lai lịch) sử dụng số điện thoại 0356407xxx gọi vào số điện thoại 0852761xxx của V rủ đến khu vực ngõ 14 H, phường T, quận K, Hà Nội cùng sử dụng ma tuý, V đồng ý. Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, V đi xe máy từ nhà đến khu vực quận B - thành phố Hải Phòng (không nhớ địa chỉ cụ thể), gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 1.500.000 đồng tiền ma tuý “Kẹo” và “Ke”. V nhận ma túy rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải phía trước và đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, V liên hệ với Nguyễn Tùng L (sinh năm 1990; HKTT: Khu 7 Thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương) - làm nghề lái xe chở V đến điểm hẹn sử dụng ma túy tại Hà Nội với giá tiền xe 800.000 đồng. Khoảng 21 giờ 30 phút, L điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu đen, BKS: 34A - 65289 chở V đi theo yêu cầu. Khi đến điểm hẹn, V xuống xe và bảo L đi về, sau đó V đi bộ vào trong ngõ 14 H thì bị lực lượng Công an phường T kiểm tra, bắt quả tang cùng tang vật.

Về đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Trung V, V khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, không nhớ địa điểm đã đến mua ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ đối tượng đã bán ma túy.

Về đối tượng D là người gọi điện và nhắn tin rủ V cùng sử dụng ma túy, có số điện thoại 0356407xxx, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh tại Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel, xác định chủ thuê bao đăng ký số điện thoại trên là anh Phạm V.T (sinh năm 1988; HKTT: B, huyện Q, tỉnh Hà Tĩnh). Tại Cơ quan điều tra, anh T khai không sử dụng số thuê bao trên, không quen biết ai là Nguyễn Trung V và D. Xác định anh T không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Về anh Nguyễn Tùng L điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent màu đen, BKS: 34A - 65289, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định anh L là chủ đăng ký chiếc xe ô tô trên, chiếc xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật. Ngày 20/3/2024, anh L đến đón V và chở V lên Hà Nội theo yêu cầu, không biết V cất giấu ma túy trong người, không thấy V sử dụng ma túy trên xe. Do anh L không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của V nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe ô tô và điện thoại di động cho anh L. Anh L nhận lại tài sản và không có yêu cầu khác về dân sự. (BL 98)

Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKSHK ngày 13 tháng 6 năm 2024 đã truy tố Nguyễn Trung V tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận như khai tại Cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung V phạm Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật Hình sự là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo bản cáo trạng đã ban hành, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức án từ 22 tháng đến 26 tháng tù. Đề nghị tiêu hủy số ma túy, sim điện thoại đã thu giữ của bị cáo. Đê nghị tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Không áp dụng hình phạt phụ do bị cáo không có nghề nghiệp. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng Nghị án, bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo trình bày đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. [2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai với người là chứng, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, tổng khối lượng các chất ma túy Nguyễn Trung V tàng trữ nhằm mục đích sử dụng được quy định tại các điểm khác nhau của Điều 249 Bộ luật Hình sự và được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ – CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tổng tỷ lệ phần trăm các chất ma túy Nguyễn Trung V tàng trữ trái phép dưới 100%, như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, tại trước số 12 ngõ 14 phố H, phường T, quận K, thành phố Hà Nội, Công an phường T bắt quả tang Nguyễn Trung V có hành vi tàng trữ trái phép 1,192 gam ma túy loại Ketamine và 1,479 gam ma túy loại MDMA với mục đích sử dụng.

    Hành vi của Nguyễn Trung V đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điêu 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

  1. [3] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo được áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
  2. [4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có
  3. [5] Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội bị các hành vi vi phạm pháp luật xâm hại, đảm bảo tính công minh của pháp luật; cách ly người phạm tội với môi trường xã hội, phòng ngừa, ngăn chặn không để họ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; răn đe những người có ý định phạm tội góp phần vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước. Hơn nữa, bị cáo được giáo dục cải tạo, giúp bị cáo nhận thức rõ tội lỗi, hành vi vi phạm pháp luật, khắc phục, sửa chữa những thói quen, hành vi của bản thân không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội; ăn năn, hối cải, tích cực lao động, học tập, cải tạo, xây dựng nhận thức, tình cảm đúng đắn, định hướng được các giá trị, chuẩn mực về đạo đức, lối sống của công dân để khi trở về địa phương, họ sẽ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

    [5.1] Thời gian bị cáo tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật.

  4. [6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  5. [7] Về Biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy, sim điện thoại đã thu giữ của bị cáo. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo do liên quan đến ma túy.
  6. [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
  7. [9] Án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: NGUYỄN TRUNG V phạm Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Áp dụng:
    • - Điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
    • - Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;
    • - Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
  3. Xử phạt: NGUYỄN TRUNG V 30 (BA MƯƠI) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
  4. Về Biện pháp tư pháp:
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín, trên mép dán của phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trung V, giám định viên, người chứng kiến, chữ ký của cán bộ và hình dấu Công an phường T. Bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 4 x 4cm, bên trong có 03 viên nén màu xám hình lục giác chứa 1,479 gam ma túy loại MDMA, PC09 trích mẫu giám định 0,499 gam, còn lại 0,980 gam MDMA; 02 túi nilon màu trắng kích thước 2 x 2cm, bên trong có 1,192 gam ma túy loại Ketamine PC09 trích mẫu giám định 0,075 gam, còn lại 1,117 gam Ketamine;
    • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo.
    • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đã qua sử dụng.

    Số vật chứng trên hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm – theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 21/6/2024.

  5. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cơ quan Điều tra quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục Thi hành án DSQHK;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - UBND thị trấn T;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THU HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HSST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 117/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger