Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN H

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày: 24/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông V

Bà D

Thư ký phiên tòa: Bà V – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà TKiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST- HS ngày 25 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 05 năm 2024, đối với bị cáo:

1. VŨ XUÂN M, sinh năm: 1960, tại: Thái Bình; Hộ khẩu thường trú: Số 23A ngõ 1 B, phường K, quận T, H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn P( đã chết) và bà: Lê Thị Y; Vợ: Nguyễn Thị Bích N; Có 03 con sinh năm 1986, 1991,1995; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 24/HSST ngày 06/3/1998, Tòa án nhân dân quận T, H xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc; Bản án số 131/2018/HSST ngày 24/9/2018, Tòa án nhân dân quận T, H xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án về tội Tổ chức đánh bạc; Bị bắt, tạm giữ ngày 20/02/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H; Có mặt.

2. VŨ VĂN T, sinh năm: 1983, tại: H; Hộ khẩu thường trú: Số 24 phố 332, phường H, quận H, H; Cư trú: Số 15, ngõ 274 Định Công, phường Định Công, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Phi H( đã chết) và bà: Trần Thị D; Vợ: Đinh Huyền T( đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Năm 2007 công an quận H xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; Năm 2009 công an quận Đống Đa xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; Năm 2011 bị công an quận quận T xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; Bản án số 272/HSST ngày 26/12/2016, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, H xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc. Quyết định số 209/2017/HSPT ngày 34/3/2017 Tòa án nhân dân thành phố H đã đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bị bắt, tạm giữ ngày 20/02/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02- Công an thành phố H; Có mặt.

3. TRẦN XUÂN T, sinh năm: 1967, tại: H; Hộ khẩu thường trú: Tổ 8, phường T, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn L( đã chết) và bà: Nguyễn Thị T( đã chết); Vợ: Lương Thị M; Có 02 con sinh năm 2013, 2015; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

4. ĐÀM VĂN Đ, sinh năm: 1983, tại: H; Hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã V, huyên T, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đàm Văn Đệ( đã chết) và bà: Trịnh Thị Lh; Vợ: Nguyễn Thị Út; Có 02 con sinh năm 2012, 2016; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T đều là bảo vệ tại công trường xây dựng đối diện ngõ 282, đường K. Ngày 20/02/2024 sau khi ăn cơm trưa thì cùng rủ nhau vào phòng bảo vệ ngồi uống nước và thấy có bộ bài chắn nên đã cùng rủ nhau chơi chắn ăn tiền. Về cách thức chơi: Bộ bài chắn có 100 lá bài, gồm 25 quân bài khác nhau, mỗi quân bài có 4 lá giống nhau. Khi chơi những người chơi ngồi vòng tròn trên chiếu theo chiều kim đồng hồ là M, T, Đ, T. Quá trình chơi không ai thay đổi vị trí ngồi. Trong lúc chơi, mỗi người được chia 19 lá bài, những lá còn lại đặt trên đĩa giữa chiều gọi là “Nọc”. Lúc chia bài: có 02 người chia bài (02 người thua ván trước chia bài). Mỗi người lấy khoảng một nửa bộ bài, chia rải đều, úp mặt quân bài thành 05 phần (02 người chia làm 10 phần), sẽ thừa từ 0 đến 05 quân. Khi chia xong, lấy 05 phần này bỏ vào 05 phần kia thành 05 phần chung, 05 lá thừa được đưa cho người T ván trước để chọn nọc. Chọc nọc, bốc cái: Người T vắn trước bỏ 5 lá thừa vào 1 phần bài bất kỳ để làm nọc. Rồi rút ngẫu nhiên 1 quân trong nọc, lật ngừa vào 1 phần bài bất kỳ trong 4 phần còn lại – phần này gọi là bài cái, quân lật ngửa gọi là “Cái”. Các đối tượng quy ước “Chắn” là 2 quân bài giống hệt nhau, “Cạ” là 2 quân bài giống nhau về số, “Ba đầu” là 3 quân cùng số, khác chất, “Què” khi lên bài, thường sẽ phải xếp lại bài cho dễ nhìn, chọn hết các chắn xếp trước, rồi đến cạ và ba đầu. Những quân lẻ được là chân què, xếp ngoài cùng (những quân này thường được ăn vào/ đánh đi để thêm chắn/cạ và mục đích để ù). Cách đánh bài: Theo vòng tay phải, mỗi người khi đến lượt có thể thực hiện: Đánh, bốc nọc, ăn, dưới, chíu, trả cửa, Ù. Đánh bài theo cước, ai thua ù xuông 20.000 đồng/1 người, thua ù dịch là 10.000 đồng/1 người, thua ù tôm 40.000 đồng/1 người, thua ù lèo 50.000 đồng/1 người. Cả nhóm chơi từ 13 giờ đến 16 giờ cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an phường Đại Kim, quận H, thành phố H phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng đã thu giữ:

  • - Thu của Trần Xuân T 02 bộ bài lá đánh chắn, mỗi bộ 100 quân bài (đã qua sử dụng) và 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 20 cm (đã qua sử dụng).
  • - Thu giữ của Trần Xuân T tự nguyện giao nộp số tiền là 2.710.000 đồng gồm: thu trên chiếu trước chỗ ngồi có 2.210.000 đồng; trong ví có 500.000 đồng, 01 ví da màu nâu đen (đã qua sử dụng).
  • - Thu giữ của Đàm Văn Đ tự nguyện giao nộp số tiền 4.890.000 đồng gồm trên chiếu trước chỗ ngồi là 2.040.000 đồng; trong người có 2.850.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu vivo V23e số imei 567253059679795, số imei 2 867253059679780.
  • - Thu giữ của Vũ Xuân M tự nguyện giao nộp số tiền 4.440.000 đồng gồm: trên chiếu trước chỗ ngồi là 940.000 đồng; trong ví có số tiền 3.500.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus có imei 356709089632661.
  • - Thu giữ của Vũ Văn T tự nguyện giao nộp số tiền 1.260.000 đồng gồm: trên chiếu trước chỗ ngồi là 1.060.000 đồng và trong ví có 200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 có số imei là 354491510415055, số imei2 lad 357022900415053, 01 ví da màu nâu (đã qua sử dụng);

Tổng số tiền mặt thu trên chiếu là 6.250.000 đồng, tổng số tiền thu trong người là 7.050.000 đồng.

Về số tiền đánh bạc cụ thể như sau:

Đàm Văn Đ tự khai ban đầu có số tiền 5.300.000 đồng, khi bắt đầu chơi Đàm bỏ ra số tiền 2.450.000 đồng để đánh bạc, còn số tiền 2.850.000 đồng Đàm cất trong người dự phòng nếu thua thì sẽ bỏ ra để chơi tiếp. Khi bị bắt cơ quan công an đã phát hiện, thu giữ của Đ tổng số tiền 4.890.000 đồng gồm trên chiếu trước chỗ ngồi là 2.040.000 đồng; trong người có 2.850.000 đồng. Đàm đang thua số tiền 410.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Đàm Văn Đ xác định là 5.300.000 đồng.

Trần Xuân T tự khai ban đầu có số tiền 1.000.000 đồng, khi bắt đầu chơi T bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc, còn số tiền 500.000 đồng T cất trong ví dự phòng nếu thua thì sẽ bỏ ra để chơi tiếp. Khi bị bắt cơ quan công an đã phát hiện thu giữ của T tổng số tiền 2.710.000 đồng gồm trên chiếu trước chỗ ngồi có 2.210.000 đồng, trong ví có 500.000 đồng. T đang T số tiền 1.710.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Trần Xuân T xác định là 2.710.000 đồng.

Vũ Xuân M tự khai ban đầu có số tiền 5.300.000 đồng, khi bắt đầu chơi M bỏ ra số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc, còn số tiền 3.500.000 đồng M tự khai là tiền sinh hoạt cá nhân, không tiếp tục sử dụng đánh bạc nếu bị thua. Khi bị bắt cơ quan công an đã phát hiện thu giữ của M tổng số tiền 4.440.000 đồng gồm: trên chiếu trước chỗ ngồi là 940.000 đồng, trong ví có số tiền 3.500.000 đồng. M đang thua số tiền 860.000 đồng. Số tiền đánh bạc của Vũ Xuân M xác định là 1.800.000 đồng.

Vũ Văn T tự khai ban đầu có số tiền 1.700.000 đồng, khi bắt đầu chơi T bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, còn số tiền 200.000 đồng là tiền sinh hoạt cá nhân, không tiếp tục sử dụng đánh bạc nếu bị thua. Khi bị bắt cơ quan công an đã phát hiện thu giữ của T tổng số tiền 1.260.000 đồng gồm trên chiếu trước chỗ ngồi là 1.060.000 đồng, trong ví có 200.000 đồng. T đang thua số tiền 440.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Vũ Văn T xác định là 1.500.000 đồng.

Tổng số tiền các bị can Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T sử dụng để đánh bạc xác định là 9.600.000 (số tiền thu trên chiếu: 6.250.000 đồng; số tiền thu trong người sử dụng để đánh bạc: 3.350.000 đồng). Số tiền 200.000 đồng thu của Vũ Văn T và 3.500.000 đồng thu của Vũ Xuân M các bị can khai không sử dụng để đánh bạc.

Cáo trạng số 118/CT-VKSHM ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T tội Đánh bạc quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[2] Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 118/CT-VKSHM ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình bị truy tố là đúng tội, quá trình điều tra không bị ai đánh đập, đe dọa, ép cung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử :

  • Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Vũ Xuân M từ 06 tháng tù đến 10 tháng tù; Vũ Văn T từ 06 tháng tù đến 10 tháng tù;
  • Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Xuân Thuỷ từ 06 tháng dến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách từ 12 tháng đến 20 tháng.
  • Đàm Văn Đ từ 06 tháng dến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách từ 12 tháng đến 20 tháng.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo;
  • Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài chắn, 01 đĩa sứ
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc: 9.600.000 đồng( trong đó có 6.250.000 đồng thu trên chiếu bạc và 2.850.000 đồng thu trong người bị cáo Đàm Văn Đ, 500.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Trần Xuân Thuỷ)
  • Trả lại cho bị cáo Đàm Văn Đ 01 điện thoại nhãn hiệu vivo V23e số imei 567253059679795, số imei 2 867253059679780.
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Xuân M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus có imei 356709089632661.
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 có số imei là 354491510415055, số imei2 lad 357022900415053;
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T số tiền 200.000 đồng
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Xuân M số tiền 3.500.000 đồng.

[3]. Phần tranh luận tại phiên tòa: các bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, luận tội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo mà Kiểm sát viên đã đưa ra là đúng, không oan sai nên không có tranh luận gì.

[4]. Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành phạm tội của bị cáo: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được trong vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ ngày 20/02/2024, tổ công tác Công an phường Đại Kim, quận H, thành phố H phát hiện và bắt quả tang tại khu vực lán của công nhân xây dựng, đối diện ngõ 282, đường K, phường Đại Kim, H, H, Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T đang có hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh “chắn”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.600.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh chắn, sát phạt nhau bằng tiền nhằm mục đích được thua bằng tiền, hưởng lợi bất chính, với tổng số tiền 9.600.000 của các bị cáo Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, làm gia tăng tệ nạn cờ bạc, là loại tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng xấu tới kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình, đồng thời còn là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự nguy hiểm khác.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều là bảo vệ, cùng làm việc với nhau tại công trường xây dựng, cùng rủ nhau đánh bạc nhằm mục đích hưởng lợi bất chính. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc là 9.600.000 đồng, tuy nhiên số tiền mỗi bị cáo sử dụng để đánh bạc là khác nhau. Cụ thể: bị cáo Đàm Văn Đ có số tiền sử dụng đánh bạc là 5.300.000 đồng, bị cáo Thuỷ có số tiền sử dụng đánh bạc là 2.710.000 đồng, bị cáo Vũ Xuân M có số tiền sử dụng đánh bạc là 1.800.000 đồng, bị cáo Vũ Văn T có số tiền sử dụng đánh bạc là 1.500.000 đồng. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[4]. Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét: Các bị cáo M, T, T, Đ đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải. Nhân thân bị cáo Vũ Xuân M có 02 tiền án năm 1998 và năm 2018 bị xét xử về tội Đánh bạc, bị cáo Vũ Văn T có 03 tiền sự và 01 tiền án năm 2016 bị xét xử về tội Đánh bạc. Các tiền sự, tiền án trên đều đã được xoá. Nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo M và T. Các bị cáo Thuỷ, Đ nhân thân chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đều có nơi ở ổn định rõ ràng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm cho các bị cáo và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự quản lý của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo T và Đ.

[5]. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

[6]. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M 02 bộ bài chắn, 01 đĩa sứ là đồ vật có sẵn tại lán và không rõ do ai đem đến, là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc: 9.600.000 đồng( trong đó có 6.250.000 đồng thu trên chiếu bạc và 2.850.000 đồng thu trong người bị cáo Đàm Văn Đ, 500.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Trần Xuân Thuỷ) cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Vũ Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.

Đối với số tiền 3.500.000 đồng thu giữ của bị cáo Vũ Xuân M không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo M.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu vivo V23e số imei 567253059679795, số imei 2 867253059679780 thu giữ của bị cáo Đ Văn Đàm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus có imei 356709089632661 thu giữ của bị cáo Vũ Xuân M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 có số imei là 354491510415055, số imei2 là 357022900415053, 01 ví da màu nâu (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Vũ Văn T, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.

Đối với 01 ví da màu nâu thu giữ của bị cáo T và 01 ví da màu nâu đen thu giữ của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội, đã được trả lại cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xét.

Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Vũ Xuân M, Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Xuân M được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm

[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

  • Xử phạt: Vũ Xuân M 08 tháng tù về tội Đánh bạc.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.
  • Xử phạt: Vũ Văn T 08 tháng tù về tội Đánh bạc.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/02/2024.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

  • Xử phạt: Trần Xuân Thuỷ 08 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.
  • Xử phạt Đàm Văn Đ 08 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Xuân Thuỷ về Ủy ban nhân dân phường T, quận H, H để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Giao bị cáo Đàm Văn Đ về Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, H để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.

Trong trường hợp bị cáo Trần Xuân Thuỷ, Đàm Văn Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Xuân Thuỷ, Đàm Văn Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2]. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[3]. Về Biện pháp tư pháp :

Căn cứ: - Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài chắn mỗi bộ 100 quân bài, 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 20cm đã qua sử dụng
  • Trả lại cho bị cáo Đàm Văn Đ 01 điện thoại nhãn hiệu vivo V23e số imei 567253059679795, số imei 2 867253059679780.
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Xuân M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus có imei 356709089632661.
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 có số imei là 354491510415055, số imei2 là 357022900415053, 01 ví da màu nâu (đã qua sử dụng);
  • (Theo phiếu nhập kho và biên bản bàn giao vật chứng số: NK2024- 0152 ngày 08/05/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H, H).
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc: 9.600.000 đồng( trong đó có 6.250.000 đồng thu trên chiếu bạc và 2.850.000 đồng thu trong người bị cáo Đàm Văn Đ, 500.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Trần Xuân Thuỷ)
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Văn T số tiền 200.000 đồng
  • Trả lại cho bị cáo Vũ Xuân M số tiền 3.500.000 đồng.
  • (theo Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận H ngày 17/04/2024 tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh H).

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo Vũ Văn T, Đàm Văn Đ, Trần Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Vũ Xuân M được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm

[5]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP H;
  • - Viện kiểm sát quận H;
  • - Thi hành án quận H;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H về đánh bạc (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: XÉT XỬ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger