Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền
  • Ông Cao Kim Hoàn

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 với bị cáo:

NGUYỄN NGỌC T; Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 16/5/1989 tại huyện V, tỉnh Yên Bái

Đăng ký thường trú: Tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Chí Đ và bà Ngô Thị S. Bị cáo có vợ là Đỗ Thị T, có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt

Bị hại:

Chị Chảo Tả M – Sinh năm 2002

Đăng ký thường trú: Thôn L, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai

Nơi ở hiện nay: Tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 26/6/2024, Nguyễn Ngọc T1 đi bộ trên một số tuyến đường tại khu vực phường C, thành phố L mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cửa số nhà A, đường S, tổ A, phường C thấy có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu vàng – trắng, biển kiểm soát 24AD-01327 có cắm chìa khóa điện ở ổ khóa nên Nguyễn Ngọc T1 đã dắt lùi xe xuống lòng đường rồi mở khóa điện, nổ máy đi về hướng đường C đến thôn L, xã Q, huyện B là nơi Nguyễn Ngọc T1 đi làm thuê. Khi đến nơi, Nguyễn Ngọc T1 mở cốp xe và thấy bên trong có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Chảo Tả M. Sau khi lấy được xe, Nguyễn Ngọc T1 đã sử dụng xe trộm cắp được để làm phương tiện đi lại.

Ngày 10/7/2024 tổ công tác Công an xã Q, huyện B phối hợp với công an phường C, thành phố L kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Ngọc T1, quá trình kiểm tra Nguyễn Ngọc T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố L kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 24AD-01327, màu vàng – trắng đã qua sử dụng, số khung: RLHJA3930RY706058, số máy JA70E283735 có giá trị là 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là chị Chảo Tả M, ngày 02/8/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra quyết định xử lý vật chứng số 1273/QĐ-ĐTTH trả lại cho chị Chảo Tả M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 24AD-01327 màu vàng-trắng, đã qua sử dụng. Sau khi nhận tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gí khác về dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Cáo trạng số 109/CT-VKS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65- Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 với mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi tư) tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 26/6/2024 bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã thực hiện hành vi trộm cắp của chị Chảo Tả M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 24AD-01327, màu vàng – trắng trị giá 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng), hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhưng thiếu ý thức, coi thường pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội.Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo cần xử lý nghiêm trước pháp luật, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối cải, không gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng khi điều tra, xét xử vụ án. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, xét thấy, không cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù giam, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Chảo Tả M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 - Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

  2. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Ngọc T1 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Bị cáo (1); Bị hại;
  • - UBND phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN NGỌC T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger