Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn; Bà Phan Thị Yến

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Đạt – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Long xuyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trường Cao đẳng N, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét sử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS, ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 15 tháng 01 năm 1980 tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Số H, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1947; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Tuyết O, sinh năm 1983 và chưa có con.

- Nhân thân: Ngày 18 tháng 5 năm 2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết “tái phạm”. Ngày 21 tháng 9 năm 2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, tổng hợp hình phạt của hai bản án là 04 năm tù; đến ngày 13 tháng 11 năm 2007, bị cáo chấp hành xong bản án. Ngày 30 tháng 9 năm 2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm”; đến ngày 11 tháng 5 năm 2014, bị cáo chấp hành xong bản án.

- Tiền án: Có 02 tiền án

2

+ Ngày 25 tháng 3 năm 2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 16 tháng 9 năm 2003 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa nộp án phí hình sự, chưa được xóa án tích.

+ Ngày 16 tháng 4 năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung là tái phạm nguy hiểm). Đến ngày 10 tháng 02 năm 2011, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa nộp án phí hình sự, chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04 tháng 4 năm 2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Em Nguyễn Huỳnh D, sinh năm 2007; (vắng mặt)
  • Cư trú: Tổ B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện hợp pháp của em D là: Bà Huỳnh Thị Diễm T, sinh năm 1977; (vắng mặt)
  • Cư trú: Tổ B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Bà Huỳnh Thị Diễm T, sinh năm 1977; (vắng mặt)
  • Cư trú: Tổ B, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Ông Lê Văn T1, sinh năm 1992; (vắng mặt)
  • Cư trú: Ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang
  • - Người làm chứng: Ông Nguyễn Minh T2 (vắng mặt), ông Nguyễn Minh Q (có mặt), ông Dương Hiếu H1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 25 tháng 8 năm 2023, khi H, Nguyễn Minh Q, Nguyễn Minh T2 (anh và em ruột của H) và Lê Văn T1 (bạn của H) đang ở nhà H tại khóm B, phường B, thành phố L thì Nguyễn Huỳnh D đến gặp H để đòi tiền nợ mà mẹ của D là Huỳnh Thị Diễm T cho H vay vào tháng 5 năm 2023. H hẹn ít ngày sau sẽ trả, nhưng D không đồng ý nên xảy ra cự cãi. Lúc này, D điện thoại cho T và Dương Hiếu H1 (sống chung như vợ chồng với T) đến nói chuyện với H, còn D chạy về nhà lấy 01 cây dao dài 42cm, cán dao bằng nhựa giấu trong người. Khi T và H1 đến nhà H thì tiếp tục xảy ra cự cãi với H. Khoảng 10 phút sau, D điều khiển xe mô tô chở 02 thanh niên (không rõ nhân thân) đến nhà H. D dừng xe cầm dao xông vào chém H và Lê Văn T1 gây thương tích, thì H chạy vào nhà lấy 01 cây

3

dao dài 47cm, cán dao bằng cây chạy ra chém lại D gây thương tích nên D bỏ chạy ra đường V, khóm B, phường B. H tiếp tục cầm dao truy đuổi theo D khoảng 30 mét. Bị truy đuổi, D dùng chiếc xe đạp đang dựng bên đường ném về phía H và bỏ chạy về nhà. Sau đó, H, T1 được đưa vào Bệnh viện Đ điều trị.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 cây dao dài 42cm và 01 cây dao dài 47cm.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, Ủy ban nhân dân phường B có Công văn số 41 kiến nghị xử lý các thanh niên sử dụng hung khí gây rối trật tự công cộng vào ngày 25 tháng 8 năm 2023.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 09/24/KLTTCT-TTPY, 10/24/KLTTCT-TTPY, 22/24/KLTTCT-TTPY cùng ngày 10 tháng 01 năm 2024, kết luận: Tỷ lệ phần trăm do thương tích gây nên đối với Nguyễn Minh H là 04%, thương tích do vật sắc gây nên. Tỷ lệ phần trăm do thương tích gây nên đối với Lê Văn T1 là 09%, do vật sắc gây nên. Tỷ lệ phần trăm do thương tích gây nên đối với Nguyễn Huỳnh D là 02%.

Nguyễn Huỳnh D, Huỳnh Thị Diễm T trình bày trong quá trình điều tra: Ngày 25 tháng 8 năm 2023, Dưỡng một mình điều khiển xe đến nhà H thì bị H dùng dao truy đuổi, D thấy H cầm dao chém T nên D xông vào dùng dao gây thương tích cho H. D bị H dùng dao chém trúng vào tay, lúc này Lê Văn T1 xông đến nên D dùng dao chém trúng vào T1 rồi bị H cầm dao truy đuổi nên bỏ chạy. T đã bồi thường cho T1 2.000.000 đồng. D và T có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án và bồi thường thiệt hại.

Tại Cáo trạng số 123/CT-VKSLX ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại các điểm b, e khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung đã nêu. H không thừa nhận hành vi dùng dao chém D. Đối với yêu cầu D bồi thường 99.950.000 đồng mà H trình bày trong quá trình điều tra; tại phiên tòa, H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề bồi thường này trong vụ án hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Các điểm b, e khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; đề nghị tịch thu, tiêu hủy 02 cây dao thu giữ trong vụ án.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

4

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại đoạn đường V, khóm B, phường B, thành phố L, khi bị Nguyễn Huỳnh D sử dụng dao gây thương tích cho Nguyễn Minh H, bị cáo H đã sử dụng dao chém lại D, D bỏ chạy thì bị cáo H tiếp tục cầm dao đuổi theo D trên đường V gây mất trật tự.

Ngày 30 tháng 9 năm 2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “tái phạm nguy hiểm”. Đến ngày 11 tháng 5 năm 2014, bị cáo chấp hành xong bản án, nhưng bị cáo vẫn còn có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử ngày 25 tháng 3 năm 2003 và ngày 16 tháng 4 năm 2009 (đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa chấp hành xong án phí hình sự). Đến ngày 25 tháng 8 năm 2023, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Xét thấy, bị cáo đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo H là tái phạm nguy hiểm.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung tăng nặng “dùng hung khí” và “tái phạm nguy hiểm” quy định tại các điểm b, e khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn công cộng. Bị cáo quyết liệt dùng hung khí rượt đuổi người khác trên đoạn đường nội ô đi qua khu vực dân cư đông đúc gây hỗn loạn

5

trong thành phố là trung tâm của tỉnh, khiến quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ, lên án và bất bình; gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội. Do vậy, cần xử lý thật nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân đã nhiều lần phải chấp hành án tại trại giam, đang có tiền án nên nhận thức đầy đủ hành vi xâm phạm đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm. Lẽ ra khi bị D tấn công ngoài đường, bị cáo nên tìm cách chạy thoát, chấm dứt sự việc; nhưng bị cáo lại tìm dao để sử dụng tấn công D, khi D đã bỏ chạy, bị cáo vẫn dùng dao truy đuổi theo, dẫn đến việc bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được sự ăn năn hối cải của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo phạm tội xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật của người khác. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Mặt khác, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với hành vi của Nguyễn Huỳnh Dưỡng sinh ngày 10 tháng 10 năm 2007, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Huỳnh Thị Diễm T, Dương Hiếu H1, Lê Văn T1 không trực tiếp tham gia đánh nhau gây mất an ninh, trật tự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với hai thanh niên cầm dao tự chế, chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với các con dao đã thu giữ là công cụ dùng vào việc phạm tội, thực hiện hành vi vi phạm pháp luật và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

[7] Về các vấn đề khác:

6

Về việc H yêu cầu D bồi thường thiệt hại, H xác định không yêu cầu giải quyết trong vụ án hình sự, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Nguyễn Minh H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ: các điểm b, e khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 04 tháng 4 năm 2024).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) cây dao dài 42cm, cán dao bằng nhựa dài 13cm; 01 (một) cây dao dài 47cm, cán dao bằng cây dài 12cm; đã qua sử dụng (Đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).

Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND tp. Long Xuyên;
  • - Công an tp. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an tp. Long Xuyên;
  • - Nhà tạm giữ - Công an tp. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS tp. Long Xuyên;
  • - Những người tham gia tô tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thùy Giang

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

Phan Thị Yến

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Nguyễn Minh H phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger