Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đức Chung.
  • Bà Lê Thị Thanh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống hiện nay: Ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng P, sinh năm 1973; Con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 19974; Vợ là Lò Thị Thu H, sinh năm 1981; Có 01 con sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/01/2024, chuyển tạm giữ từ ngày 30/01/2024, đến ngày 08/02/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại nhà Tạm giữ Công An huyện L.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, Công an xã B tuần tra đến khu vực Ấp F, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện đối tượng Nguyễn Hoàng L có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần dài bên trái của L có 01 gói ni lông màu trắng có kích thước 03 cm x 2,5cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng đục không rõ hình L khai nhận là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định Nguyễn Hoàng L nghiện ma túy từ năm 2015 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên ngày 27/01/2024, L nhờ 01 người bạn tên L1 (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở L đến ấp H, xã B để mua ma tuý của 01 người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) để sử dụng cho bản thân. Tại đây, L mua của T 01 gói ma tuý trị giá 1.000.000 đồng Long cất giấu trên người rồi nhờ L1 chờ L về nhà tại ấp F, xã B. L đã lấy sử dụng 01 phần, phần còn lại L cất giấu trong túi quần, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, khi L đang đứng trước cửa nhà thì bị Công an xã B kiểm tra hành chính phát hiện L cất giấu gói ma tuý trong người nên đã lập biên bản phạm tội quả tang như trên.

Tại Bản Kết luận giám định số 300/KL-KTHS ngày 50/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6551 gam, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 300/KL-KTHS ngày 05/02/2024.

Tại cáo trạng số 101/CT-VKS-LT ngày 11 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 16 đến 18 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị: tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy đã được niêm phong được hoàn lại sau khi giám định số 300/KL- KTHS ngày 05/02/2024.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên đã đủ cơ sở xác định:

Nguyễn Hoàng L là người nghiện ma túy, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/01/2024 Công an xã B kiểm tra hành chính phát hiện L có hành vi cất giấu trong túi quần 01 gói nilong màu trắng có kích thước 03 cm x 2,5cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng đục không rõ hình L khai nhận là ma túy do L mua về để sử dụng. Tại Bản Kết luận giám định số 300/KL-KTHS ngày 50/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6551 gam, loại Methamphetamine.. Vì vậy, đã có đủ chứng cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng L cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo tội danh và điểm, khoản, Điều nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã trưởng thành đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, biết tác hại của ma túy, ảnh hưởng sức khỏe con người, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế và sự phát triển của chính bản thân và gia đình bị cáo nhưng vẫn mua ma túy về cất giấu để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về xử lý vật chứng: Phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 300/KL- KTHS không được phép sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác: Đối với người tên L1 có hành vi chở L đi mua ma túy và người đàn ông tên T đã bán ma túy cho L, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về các vấn đề trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng L 1 (một) năm 4 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 29/01/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy phong bì được niêm phong chứa ma túy được hoàn lại sau khi giám định số 300/KL- KTHS ngày 05/02/2024.

(Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành theo Quyết định chuyển vật chứng số 66/QĐ-VKSLT ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/4/2024).

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Nguyễn Hoàng L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh;
  • - Viện KSND tỉnh;
  • - Viện KSND H. Long Thành;
  • - THADS H. Long Thành;
  • - Cơ quan điều tra CA H. Long Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phụng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger