Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2023/HNGĐ – ST

Ngày: 22/12/2023

V/v " Ly hôn".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận

Bà Trần Thị Chín

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: không tham gia phiên toà.

Trong ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 221/HNGĐ-ST, ngày 08 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 292/2023/QĐST - HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023; giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: chị Triệu Thị T, sinh năm 1995 ( có mặt)
  • Bị đơn: anh Phạm Thế L, sinh năm 1989 ( vắng mặt)
  • Cùng cư trú tại: thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2023 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Triệu Thị T trình bày: Chị Triệu Thị T và anh Phạm Thế L tự nguyện chung sống năm 2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng mỗi người một tính cách, phong tục tập quán khác nhau, không thống nhất với nhau về việc làm ăn, nuôi dạy con cái, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mất tình cảm do buồn chán chị T bỏ đi làm ăn xa nhà nên anh, chị đã sống ly thân, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, kinh tế độc lập. Hiện nay chị T thấy không còn tình cảm với anh L nên chị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho chị T được ly hôn với anh L.

Về con chung: có 02 con chung là các cháu Phạm Ngọc H, sinh năm 2013; cháu Phạm Thị Quỳnh A, sinh năm 2015; sau ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H đến khi cháu thành niên; anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A đến khi cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ chung: không có.

Bị đơn anh Phạm Thế L qua lời khai trình bày: anh Phạm Thế L và chị Triệu Thị T tự nguyện chung sống năm 2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị T đi làm xa nhà, ít về nên vợ chồng không có sự tin tưởng nhau về mặt tình cảm, từ đó xảy ra cãi vã, xô sát; nay chị T yêu cầu được ly hôn, anh L mong muốn được hoà giải để vợ chồng trở lại đoàn tụ cùng lo cho các con.

Về con chung: có 02 con chung là các cháu Phạm Ngọc H, sinh năm 2013; cháu Phạm Thị Quỳnh A, sinh năm 2015; trường hợp phải ly hôn anh L có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A đến khi cháu thành niên; giao chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H đến khi các cháu thành niên; không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ: không có.

Các tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, xác định được chị Triệu Thị T và anh Phạm Thế L tự nguyện chung sống, kết hôn năm 2013 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước; phù hợp với giấy chứng nhận kết hôn đã được chị T giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Triệu Thị T và anh Phạm Thế L là hợp pháp.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời khai của chị T, anh L thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng ý kiến, anh L thường đi nhậu, từ đó vợ chồng xảy ra cãi vã, xô sát, làm mất tình cảm, chị T đi làm ở xa, sống ly thân kéo dài, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau; hiện nay chị T thấy không còn tình cảm với anh L nên yêu cầu được ly hôn với anh L; phía anh L không đồng ý ly hôn mong muốn được đoàn tụ gia đình để lo cho các con. Hội đồng xét xử thấy, anh L mong muốn được đoàn tụ gia đình nhưng anh lại không có sự cố gắng, thiện chí trong việc khắc phục mâu thuẫn, vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc nhau, sống bỏ mặc nhau, vẫn sống ly thân kéo dài; không tham gia buổi hoà giải tại toà án, không hợp tác làm việc; phía chị T không đồng ý trở lại đoàn tụ, kiên quyết xin được ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anh L và chị T là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

[2] Về con chung: Có 02 con chung là các cháu Phạm Ngọc H, sinh năm 2013; cháu Phạm Thị Quỳnh A, sinh năm 2015. Qua lời khai các đương sự thống nhất sau ly hôn về con anh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A, chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H đến khi các cháu thành niên, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Lời khai của cháu A có nguyện vọng được chung sống với ba, lời khai của cháu H có nguyện vọng được được chung sống với mẹ, cần chấp nhận ý kiến của anh L, chị T và nguyện vọng của cháu H và cháu A.

[3] Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của Bộ luật Tố tụng dân sự các đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.

[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Triệu Thị T được ly hôn với anh Phạm Thế L.

[2] Về con chung: Giao cháu Phạm Ngọc H, sinh năm 2013 cho chị Triệu Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Phạm Thị Quỳnh A, sinh năm 2015 cho anh Phạm Thế L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên; không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Các bên có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[3] Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.

[4] Về nợ chung: không có.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Triệu Thị T nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0001342, ngày 08/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không tự giác thi hành, thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm thực hiện.

[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Đăng;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, T.tr;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LƯU THÙY LINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2023/HNGĐ – ST ngày 22/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 117/2023/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger