Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2025/HS-PT

Ngày: 13-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán:Ông Phạm Minh Tùng.
Ông Nguyễn Ngọc Thông.
Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 102/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Võ Phước L. Do có kháng cáo của bị cáo Võ Phước L đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Bị cáo có kháng cáo: Võ Phước L (Tên gọi khác: H), sinh năm: 1977; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Võ Phước L1, sinh năm: 1954 và Mẹ: Trương Thị Tuyết M, sinh năm: 1957; Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Trong vụ án còn có bị hại Nguyễn Thị Cẩm N không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 22/9/2024 tại khu vực trước cửa nhà của bị cáo Võ Phước L thuộc khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. L dùng vòi xịt áp suất để rửa sân dal trước cửa nhà khoảng 10 phút thì bà Nguyễn Thị Cẩm N, nhà ở cạnh bên đi qua và nói L rửa sân chảy nước qua nhà của bà, L trả lời “nếu có chảy nước qua nhà bà thì tôi qua quét” sau đó, bà N dùng tay xô đẩy tấm biển hiệu “sửa xe H” của L ngã xuống nền dal. Lúc này, L dùng vòi nước xịt vào mặt bà N nên bà N nhặt cây chổi cọng dừa ở gần đó xông lại đánh L; thấy vậy, L tiếp tục dùng vòi nước xịt vào mặt bà N (lần thứ 2) nên bà N dùng chổi đánh L nhiều lần nên L dùng ống kim loại (gắn vào phần tay bóp vòi xịt nước) để đỡ, bà N dùng tay giật lấy ống kim loại do L đang cầm, hai bên giằng co qua lại nên L dùng ống kim loại đánh và quơ trúng vùng mặt, vùng trán và cẳng tay trái của bà N và làm cho bà N bị té ngã xuống nền dal bị chấn thương. Lúc này, anh Võ Phước A là (con ruột của L) từ trong nhà chạy ra đỡ bà N đứng dậy và đưa bà N về nhà. Sau đó, bà N được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T và chuyển đến Bệnh viện Đ điều trị.

Ngày 23/9/2024, bà Nguyễn Thị Cẩm N gửi đơn yêu cầu giám định thương tật và yêu cầu xử lý hình sự đối với Võ Phước L.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 218/KLTTCT-TTPYĐT ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, đối với: bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm: 1957 – trú tại khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, kết luận như sau:

  • - Sẹo vết thương phần mềm trán trái, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 03%.
  • - Vết biến đổi sắc tố da mắt trái – má trái. Tỷ lệ tổn thương: 0,5%.
  • - Vết biến đổi sắc tố da cẳng tay phải. Tỷ lệ tổn thương: 0,5%.
  • - Mắt phải, gối phải hiện không có dấu hiệu tổn thương, nốt sưng cẳng tay trái. Không cho tỷ lệ phần trăm.

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Cẩm N tại thời điểm giám định là: 04%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

  • - Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (Một) ống kim loại (bộ phận gắn vào tay bóp vòi xịt nước) có kích thước dài 0,4met, đường kính 05mm, hai phần đầu bên ngoài có ốp nhựa màu đen, một đầu có khớp gắn vào trong tay bóp, đầu còn lại là vòi xịt bằng kim loại;
  • - 01 (Một) đoạn dây ống dẫn nước dài 13m, bằng nhựa dẽo màu vàng nhạt, phần đầu ống dây có gắn 01 tay bóp của vòi xịt nước bằng nhựa cứng, màu đen, có chữ “HENG WANG”, kích thước tay bóp 0,2m x 0,15m, đã qua sử dụng, bị mất phần vòi xịt.
  • - 01 (Một) cây chổi cọng dừa, kích thước tay dài 0,9m, rộng 0,45m, đã qua sử dụng.
  • - 01 (Một) đôi dép quai kẹp bằng nhựa, phần đế màu cam, quai màu đen, cùng kích thước dài 0,25m, rộng phần trên 0,1m, rộng phần dưới 0,075m, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Cẩm N yêu cầu bị cáo Võ Phước L bồi thường 40.000.000 đồng, trong đó gồm các khoản: tiền thuốc, tiền xe chuyển bệnh, tiền chụp cắt lớp C là 10.000.000 đồng (không có hóa đơn, chứng từ); bồi thường ngày công lao động, thuê người nuôi dưỡng 30 ngày x 500.000/ngày = 15.000.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần 15.000.000 đồng). Bị cáo Võ Phước L không thống nhất bồi thường.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2025/HS-ST ngày 01 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã quyết định:

  • Tuyên bố bị cáo Võ Phước L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Xử phạt bị cáo Võ Phước L 06 (Sáu) tháng tù; thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, bị cáo Võ Phước L có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Võ Phước L bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo Võ Phước L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Phước L, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Võ Phước L.

Bị cáo Võ Phước L không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Phước L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào ngày 22/9/2024, bị cáo L dùng vòi xịt nước rửa sân dal trước nhà, làm nước tràn qua sân nhà bà N dẫn đến việc hai bên cãi vã xô xát nhau. Trong lúc xô xác bị cáo L đã dùng vòi xít nước rửa xe, xịt trúng vào người và mặt bà N 02 lần; tiếp đến bị cáo L đã cầm lấy vòi xịt nước có gắn đoạn ống kim loại (là hung khí nguy hiểm) đánh và quơ trúng vào vùng mặt, vùng trán và cẳng tay trái của bà N và làm cho bà N bị té ngã xuống nền dal gây thương tích tổn thương cơ thể với tỷ lệ 04%.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Võ Phước L là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng vòi xịt nước có gắn đoạn ống kim loại gây thương tích cho bị hại. Bị cáo nhận thức được vòi xịt nước có gắn đoạn ống kim loại là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng vòi xịt nước có gắn đoạn ống kim loại này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích, là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho bị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 04%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Phước L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng bị cáo không cung cấp được tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo. Đồng thời, các tình tiết mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo không là điều kiện để cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã có xem xét, cân nhắc mức hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Võ Phước L.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Võ Phước L là có cơ sở, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của bị cáo Võ Phước L không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Võ Phước L. Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Võ Phước L.

  2. Tuyên bố bị cáo Võ Phước L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Võ Phước L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo Võ Phước L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Thanh Bình (3);
  • - VKSND huyện Thanh Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Bình;
  • - Cơ quan CSĐT CA Tỉnh ĐT;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng TTKT&THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu VT, HSVA (4), (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vụ án hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 117/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger