|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 117/2025/HS-ST Ngày: 12/06/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Minh, Ông Nguyễn Tiến Chuyển
Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng - Thư ký TAND quận Nam Từ Liêm.
Đại diện VKSND quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt C - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 108/2025/TLST- HS ngày 26/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXXST - HS ngày 28/05/2025; đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Hải Đ Sinh năm: 2006 Tại: Hà Giang
Nơi thường trú: Số 490 Lý Thường Kiệt, tổ 5 phường Ngọc Hà, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 12/12
Nghề nghiệp: Học sinh
Con ông: Bùi Duy H - Sinh năm: 1981
Con bà: Lù Minh H1 - Sinh năm: 1982
Gia đình có hai con, bị can là con thứ hai
Bị can chưa có vợ, con
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 16 tháng 11 năm 2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. (có mặt)
Họ và tên: Ngô Anh M Sinh năm: 2004 Tại: Hà Giang
Nơi thường trú: Tổ 12 phường Minh Khai, thành phố Hà Giang, Hà Giang
Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Trình độ học vấn: 12/12
Nghề nghiệp: Sinh viên
Con ông: Ngô Xuân N - Sinh năm: 1975
Con bà: Phạm Thị Hồng C1- Sinh năm: 1981
Gia đình có hai con, bị can là con thứ nhất
Bị cáo chưa có vợ, con
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 16/11/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. (có mặt)
Bị hại: Nguyễn Đức K; Sinh năm 2005; Địa chỉ: Số C, ngách C, T, Phương C2, N, thành phố Hà Nội. Là bị hại của vụ án (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Hải Đ và Ngô Anh M là người cùng quê và chơi với nhau từ nhỏ, sau khi xuống Hà Nội cả hai vẫn thường xuyên gặp gỡ nhau. Ngày 11 tháng 11 năm 2024, Ngô Anh M đi từ phòng trọ tại số F đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội sang phòng trọ của Bùi Hải Đ tại số C ngách C đường T, TDP số 1 T, Phương C2, N, Hà Nội để chơi. Lúc này, tại phòng trọ ngoài Đ và M còn có anh Nguyễn Đức K (SN: 2005, HKTT: B, B, S, Hà Nội) và Lương Hải A (SN: 2005, HKTT: Số nhà I, khu A, thị trấn M, T, Hòa Bình). Đến khoảng 18 giờ ngày 12 tháng 11 năm 2024, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Đ có bàn với M lấy trộm Laptop Asus màu đen của anh K để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, M đồng ý. Lợi dụng lúc Hải A và anh K đang ngủ nên M đã lấy chiếc Laptop Asus màu đen của anh K đang để trên bàn cạnh bếp rồi cùng Đ đem máy tính đi ra khỏi phòng và đi xuống tầng 1. Khi đi, Đ cầm theo chiếc điện thoại di động Iphone màu hồng của Hải A để sử dụng (do trong điện thoại có ứng dụng tài khoản số 0326608375 tại ngân hàng M2 của Lương Hải A và do Đ thường mượn nhờ tài khoản để người khác để chuyển tiền vào tài khoản này nên biết mật khẩu điện thoại di động và tài khoản ngân hàng của Hải A) nhưng do cửa tầng 1 của nhà trọ khóa bằng vân tay không mở được nên Đ đã quay lên phòng gọi Hải A xuống mở cửa (Hải A không biết việc Đ và M lấy máy tính của anh K), Hải A xuống mở cửa cho Đ xong thì đi thang máy lên phòng ngủ tiếp còn M cầm chiếc L đi bộ cùng Đ đến ngã ba T thì M đưa lại cho Đ cầm. Cả hai sau đó đi đến cửa hàng T ở ngã ba T của anh Hoàng Văn H2 (SN: 1989; HKTT: Khu 2, Q, T, Phú Thọ) để cầm cố máy tính. Đến nơi, M đứng ngoài còn Đ cầm máy tính vừa trộm cắp được vào cửa hàng cầm cố cho anh H2 với giá 5.000.000 đồng, anh H2 sau đó chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng cho Đ vào tài khoản 0326608375 của Lương Hải A tại ngân hàng M2 (do Đ cung cấp). Sau đó, Đ và M đi về phòng trọ, khi Hải A nhận lại điện thoại thì thấy có thông báo tài khoản nhận được số tiền 5.000.000 đồng nên hỏi thì Đ trả lời: “Em vừa cắm máy laptop", Hải A thấy vậy không nói gì. Sau đó, Hải A đã đi cùng Đ và M ra quán internet chơi điện tử. Tại đây, Đ sử dụng điện thoại và tài khoản ngân hàng của Hải A để thanh toán tiền chơi điện tử và chi trả tiền ăn uống cho cả 3 và trả nợ. Đ cùng M và Hải A chơi điện tử đến khoảng 19 giờ 30 ngày 12/11/2024 thì Đ bảo Hải A đi cùng đến cửa hàng điện thoại Táo Sáng M1 để lấy thêm tiền và cầm theo điện thoại của Hải A còn M vẫn ngồi lại chơi điện tử. Khi đến cửa hàng T, Hải A ngồi đợi ở ngoài cửa hàng còn Đ đi vào cửa hàng và bảo anh H2 cho lấy thêm 2.000.000 đồng. Anh H2 đồng ý và chuyển khoản 2.000.000 đồng đến số tài khoản của Hải A. Sau đó, Đ cùng Hải A quay lại quán internet cùng M chơi điện tử đến khoảng 3 giờ ngày 13/11/2024 thì cả ba về phòng trọ ngủ. Khoảng 5 giờ ngày 13/11/2024, anh K đi về phòng trọ tìm không thấy L của mình đâu nên đã hỏi mọi người thì Hải A trả lời không biết. Anh K gọi Đ dậy hỏi thì Đ nói: “Em cầm máy tính đi cắm rồi”. Anh K nói: “Lấy máy về cho anh, anh cần sử dụng đi học”. Lúc này, Hải A mới biết là Đ mang máy tính của K đi cắm lấy tiền chơi điện tử và tiêu xài chung.
Khoảng 15 giờ 30 ngày 13/11/2024, Đ tiếp tục rủ M và Hải A đến cửa hàng gặp anh H2 để lấy thêm tiền. Đến nơi một mình Đ đi vào còn M và Hải A ngồi ngoài đợi. Đ vào và thỏa thuận với anh H2 bán đứt chiếc máy tính Asus màu đen đã cắm để lấy thêm 2.500.000 đồng. Anh H2 đồng ý và tiếp tục chuyển khoản số tiền 2.500.000 đồng vào tài khoản của Hải A như hai lần trước. Sau đó cả ba tiếp tục đi chơi điện tử. Đến khoảng 2 giờ ngày 14/11/2024, khi cả ba đang chơi điện tử thì anh K gọi điện cho Hải A hỏi: “Thằng Đ đâu, nó cắm máy tính của tao ở đâu?” thì Hải A trả lời: “Không biết” và đưa điện thoại cho Đ nói chuyện với anh K. Đ bảo với anh K: “Em chưa lấy được máy tính.” rồi lại tiếp tục chơi điện tử cùng Hải A và M. Sau khi mua máy tính, khoảng 15 giờ 30 ngày 13/11/2024, anh Hoàng Văn H2 đã đem Laptop đến cửa hàng số B N, Minh K1, B, Hà Nội của anh Nguyễn Văn V (SN: 1989, HKTT: Quang Húc, T, Phú Thọ) bán lại cho anh V với giá 10.000.000 đồng. Anh V sau khi mua đã bán lại cho khách (không xác định được) với giá 12.000.000 đồng nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đến 17 giờ ngày 15/11/2024, anh K không thấy Đ đem máy tính về trả nên đã đến công an phường P trình báo sự việc.
Bùi Hải Đ và Ngô Anh M sau khi biết anh K đã trình báo Công an nên đã đến Công an phường P đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, Bùi Hải Đ và Ngô Anh M khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone màu hồng, số Sim 0326.608.375.
Tại Kết luận định giá tài sản số 288 ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận N, kết luận: 01 chiếc Laptop Asus màu đen TUF Gaming FX507ZC4-HN095W i5 12500H/16GB/512GB/15.6"/RT3050_4G/Win11_xám; số serial: R8NRCX02V382322 (đã qua sử dụng) chưa thu được tang vật có giá trị hiện tại 14.850.000 đồng.
Đối với anh Hoàng Văn H2 và Nguyễn Văn V: Quá trình điều tra xác định anh H2 và anh V đều không biết chiếc máy tính đã mua là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với Lương Hải A: Quá trình điều tra xác định sau khi Hải A biết việc Đ và M cắm Laptop của anh K nhưng vẫn tham gia đi cùng Đ và cho Đ sử dụng tài khoản cá nhân của mình để nhận tiền cầm cố và bán đứt máy tính của anh K, sau đó để cho Đ sử dụng tài khoản và điện thoại để thanh toán tiền chơi điện tử chung. Hành vi của Lương Hải A có dấu hiệu của tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên ngày 25/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm ra quyết định trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của Hải A để xem xét khởi tố bổ sung vụ án và khởi tố bị can đối với Lương Hải A về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Quá trình trả hồ sơ điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra đã xác minh và xác định Lương Hải A đã nhập ngũ ngày 13 tháng 02 năm 2025 (hiện là chiến sỹ nghĩa vụ đang huấn luyện chiến sĩ mới tại Trung tâm H3, kỹ thuật - Bộ Q) nên Cơ quan điều tra đã có công văn số: 1143 ngày 11 tháng 04 năm 2025 trao đổi và đề nghị Cơ quan điều tra hình sự Khu vực I Các tổ chức Sự nghiệp, Bộ Q tiếp nhận nguồn tin, tài liệu liên quan đến Lương Hải A trong vụ án để tiến hành xác minh, điều tra theo quy định.
Ngày 26/4/2025 hết thời hạn điều tra bổ sung, do chưa nhận được phúc đáp của Cơ quan điều tra hình sự Khu vực I Các tổ chức Sự nghiệp, Bộ Q nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu số B4008C liên quan hành vi của Lương Hải A.
Ngày 28/4/2025, Cơ quan điều tra hình sự Khu vực I Các tổ chức Sự nghiệp, Bộ Q có văn bản số 407 ngày 28/4/2025 phúc đáp, với nội dung: Căn cứ Điều 163, Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự và Thông tư 03/2023/TT-TANDTC ngày 28 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, nguồn tin về tội phạm (phần tài liệu hồ sơ theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số 416 ngày 10 tháng 02 năm 2025) thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 1 các Tổ chức sự nghiệp, Bộ Q.
Đến ngày 21 tháng 5 năm 2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã có phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm số 4415, chuyển nguồn tin tội phạm liên quan đến hành vi của Lương Hải A theo quyết định tách hành vi và tài liệu số B4008C ngày 26 tháng 4 năm 2025 đến Cơ quan điều tra hình sự khu vực T1 và cùng ngày đã bàn giao tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra hình sự khu vực T1 tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền (có biên bản giao nhận kèm theo).
Về dân sự: Quá trình điều tra, gia đình Bùi Hải Đ và Ngô Anh M đã bồi thường cho anh K số tiền 19.000.000 đồng nên anh K không có yêu cầu, đề nghị gì về dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ và M.
Lời khai nhận tội của Bùi Hải Đ và Ngô Anh M phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản dẫn giải và tài liệu điều tra khác.
Tại bản cáo trạng số: 109/CT-VKS-NTL ngày 23 tháng 5 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Ngô Anh M, Bùi Hải Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Ngô Anh M, Bùi Hải Đ khai nhận hành vi của mình, thành khẩn khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Anh M, Bùi Hải Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Hình phạt chính: Căn cứ khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự và Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử phạt Bùi Hải Đ và Ngô Anh M mức án bằng với thời hạn đã tạm giam và trả tự do cho bị cáo Bùi Hải Đ và Ngô Anh M tại phiên tòa.
Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Do vật chứng liên quan là 01 điện thoại di động in chữ Iphone màu hồng có gắn Sim thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Lương Hải A (hiện hành vi liên quan của Lương Hải A đã được Cơ quan điều tra hình sự khu vực T1 tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền) nên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để triệu tập Lương Hải A đến phiên tòa (căn cứ Điều 297 Bộ luật Tố tụng Hình sự).
Trường hợp Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục tiến hành xét xử: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- 01 điện thoại di động in chữ Iphone màu hồng có gắn Sim.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 12/11/2024, tại số C ngách C đường T, TDP số 1 T, P, N, Hà Nội, Bùi Hải Đ và Ngô Anh M đã có hành vi trộm cắp chiếc Laptop Asus màu đen TUF Gaming FX507ZC4-HN095W i5; số serial: R8NRCX02V382322 trị giá 14.850.000 đồng của anh Nguyễn Đức K.
Các bị cáo khai nhận tội. Hậu quả đã khắc phục. Anh Nguyễn Đức K không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Hải Đ, Ngô Anh M đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, do đó đối với các bị cáo cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên cần xét xử mức án nghiêm, cách ly các bị cáo một thời gian để đảm bảo tính răn đe, cải tạo bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/11/2024 đến ngày 12/06/2025 tổng là 209 ngày tạm giữ, tạm giam tương đương là 6 tháng 29 ngày tạm giữ, tạm giam nên Hội đồng xét xử cần xử các bị cáo hình phạt tù bằng thời hạn tạm giữ, tạm giam và trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường về dân sự, vì vậy không xét.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại Iphone màu hồng, sim số 0326608375 thu giữ của Lương Hải A do ngày 21/5/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H đã có phiếu chuyển nguồn tin về tội phạm số 4415, chuyển nguồn tin tội phạm liên quan đến hành vi của Lương Hải A theo quyết định tách hành vi và tài liệu số B4008C ngày 26/4/2025 đến Cơ quan điều tra hình sự khu vực T1 và cùng ngày đã bàn giao tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra hình sự khu vực T1 tiếp nhận giải quyết theo thẩm quyền. Do vậy, Hội đồng xét xử cần trả vật chứng của vụ án là chiếc điện thoại thu giữ của Lương Hải A cho cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố H để giải quyết theo thẩm quyền.
Xét các bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn cho bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền.
[3] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Hải Đ, Ngô Anh M phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Xử phạt bị cáo: Bùi Hải Đ 06 tháng 29 ngày tù (sáu tháng hai mươi chín ngày tù) về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 11 năm 2024. Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong một tội phạm khác.
- Xử phạt bị cáo: Ngô Anh M 06 tháng 29 ngày tù (sáu tháng hai mươi chín ngày) về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 11 năm 2024. Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong một tội phạm khác.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015:
- 01 điện thoại Iphone màu hồng, sim số 0326608375 thu giữ của Lương Hải A trả vật chứng cho cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H để giải quyết theo thẩm quyền.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo Bùi Hải Đ, Ngô Anh M phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các bị cáo Bùi Hải Đ, Ngô Anh M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Nhâm |
Bản án số 117/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 117/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 117/2025/HSST ngày 12 tháng 06 năm 2025 về tội " trộm cắp tài sản"
