|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2025/HS-ST
Ngày: 12-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Tấn Đạt – Nghề nghiệp: Giáo viên
Ông Nguyễn Minh Trí – Nghề nghiệp: Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải D - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/HSST ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Phan Nguyễn Vũ B, sinh ngày 17 tháng 3 năm 2006 tại tỉnh Bình Dương. Số CCCD: [...]. Nơi cư trú: Tổ E, Khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Vận động viên xe đạp; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh V và bà Nguyễn Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 20/11/2024; có mặt.
- Đào Chí T, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2006 tại tỉnh Bình Định. Số CCCD: [...]. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Vận động viên xe đạp; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn T1 và bà Hồ Thị Cẩm L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 20/11/2024; có mặt.
- Trần Văn G, sinh ngày 07 tháng 02 năm 2007 tại tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...]. Nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Vận động viên xe đạp; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Lâm Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 20/11/2024; có mặt.
- Châu Thiên P, sinh ngày 17 tháng 10 năm 2010 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Số CCCD: [...]. Nơi thường trú: Số B, đường H, Khu phố F, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Vận động viên xe đạp; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Trần Thiên V1 và bà Huỳnh Thị Bích T2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn G: Ông Trần Văn H, sinh năm 1981 và bà Lâm Thị H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ F, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán là cha, mẹ ruột của bị cáo Trần Văn G; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn G: Ông Nguyễn Tiến D1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Châu Thiên P: Ông Châu Trần Thiên V1, sinh năm 1986 và bà Huỳnh Thị Bích T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế và công nhân là cha, mẹ ruột của bị cáo Châu Thiên P; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Châu Thiên P: Ông Cao Ngọc L1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Vũ P1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số A, Đường N, Khu tái định cư P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trịnh Thanh P2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số E, đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Phan Thanh V, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số A, đường H, Tổ E, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số A, đường H, Tổ E, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Trần Văn H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ F, Khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Đào Văn T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Ông Châu Trần Thiên V1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bà Huỳnh Thị Bích T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số B, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ D, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Anh Nguyễn Hữu H2, sinh ngày 19/11/2009; nơi cư trú: Tổ D, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Hữu H2: Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ D, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là cha ruột của anh Nguyễn Hữu H2; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh B; địa chỉ: Số F, đường V, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Ngô Bảo Q1 – Phó Giám đốc đại diện; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Nguyễn Vũ B, Đào Chí T, Trần Văn G và Châu Thiên P là thành viên của Đội tuyển xe đạp tỉnh Bình Dương, ký hợp đồng huấn luyện và đào tạo với Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh B; tất cả đều ở và tập luyện tại địa chỉ: Số A, Đường C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 16 giờ 30 ngày 19/11/2024, khi B, T, G và P đang nói chuyện thì B nói với T, G và P “Tí đi bắt bê đê không”, T, G và P biết B rủ đi tìm người đồng tính nam ở khu vực vắng chặn đường lấy tài sản, nên tất cả đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, B đi xe môtô Yamaha Exciter, biển số 61AA-127.04 chở P, còn T đi xe môtô Honda Winner, biển số 77G1.939.79 chở G; cả nhóm đi từ phường P đến khu vực phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để tìm người đồng tính nam.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/11/2024, khi nhóm của B đi đến đoạn đường vắng thuộc Khu phố C, phường H thấy anh Nguyễn Vũ P1 đi xe môtô biển số 69N1-54.555; khi anh P1 đi gần đến nơi nhóm B đứng, P chạy ra chặn xe của anh P1, còn B, T và G đi đến đứng xung quanh anh P1, P hỏi “đi đâu đây”, anh P1 trả lời “đi kiếm bạn”, B nói với anh P1 “mày vô đây chơi bê đê đúng không”, anh P1 chưa kịp trả lời thì B và T dùng tay, chân còn G dùng nón bảo hiểm đánh anh P1 nhiều cái rồi hỏi “mày có tiền không”, anh P1 trả lời “không có” và lấy ví ra, T kiểm tra ví thấy không có tiền, cả nhóm mở ba lô của anh P1 ra lục tìm tài sản, nhưng tìm không thấy tài sản nào có giá trị.
Sau đó, T nói anh P1 lấy điện thoại ra mở ứng dụng tài khoản ngân hàng để kiểm tra, anh P1 không đồng ý thì T dùng tay đánh vào mặt anh P1, anh P1 sợ lấy điện thoại Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen mở ứng dụng tài khoản ngân hàng rồi đưa cho T; T đưa điện thoại của anh P1 cho P quét mã QR trên điện thoại Iphone 12 Promax của T rồi chuyển 1.900.000 đồng từ tài khoản số 7775774998 của anh P1 mở tại Ngân hàng V2 vào tài khoản số 31721314888 của ông Nguyễn Hữu Q mở tại Ngân hàng T4.
Tiếp đó, T yêu cầu anh P1 mở khóa màn hình điện thoại để T biết mật khẩu, anh P1 mở xong, T tháo sim đưa cho anh P1, T đưa điện thoại của anh P1 cho P giữ rồi cả nhóm lên xe chạy đi.
Trên đường về, T nói B và P đi bán điện thoại của anh P1 lấy tiền chia nhau, còn T và G về đi học. Khoảng 19 giờ ngày 19/11/2024, B và P đến cửa hàng điện thoại của anh Trịnh Thanh P2 tại số E, đường P, phường P, thành phố T bán điện thoại Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen của anh P1; anh P2 kiểm tra điện thoại và mua với giá 2.600.000 đồng.
Sau khi bán điện thoại, B nói với P nói lại với T và G là bán điện thoại chỉ được 2.100.000 đồng, còn 500.000 đồng B và P chia riêng. Sau đó, B, T, G và P thống nhất chia mỗi người 1.000.000 đồng.
Sau khi bị cướp tài sản, anh P1 đến Công an phường H. Sau đó, sự việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 20/11/2024, B, T, G và P đến Công an thành phố T đầu thú, Công an thành phố T lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú và thu giữ vật chứng, gồm: 01 xe môtô Honda Winner, biển số 77G1.939.79, 01 điện thoại Iphone 12 Promax, 256 Gb, màu vàng (thu giữ của T); 01 xe môtô Yamaha Exciter, biển số 61AA-127.04 (thu giữ của B) và 01 mũ bảo hiểm (thu giữ của G). Cùng ngày 20/11/2024, anh Trịnh Thanh P2 đến Công an thành phố T giao nộp điện thoại Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen và USB chứa dữ liệu trích xuất camera ghi hình B và P bán điện thoại.
Tại Kết luận định giá tài sản số 305/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen trị giá 4.500.000 đồng.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 734/KLGĐ-TTPY ngày 09/12/2024 của Trung tâm P3 – Sở Y tế tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Vũ P1 tại thời điểm giám định là 01%. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương trầy xướt niêm mạc môi trên. Bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày có cạnh gây ra.
Quá trình điều tra xác định: Tài khoản số 31721314888 mở tại Ngân hàng T5 do ông Nguyễn Hữu Q đứng tên, nhưng giao cho con là Nguyễn Hữu H2 quản lý, sử dụng để nhận lương làm thêm; H2 và P là bạn, hai bên thường chuyển tiền qua lại, nên P có mã QR tài khoản ngân hàng của ông Q và gửi cho Trung lưu lại khi cần; sau khi chuyển khoản 1.900.000 đồng của anh P1, P đã yêu cầu anh H2 chuyển lại cho P. Đối với anh Trịnh Thanh P2, khi mua điện thoại Iphone XS Max không biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có. Chiếc xe môtô biển số 77G1.939.79 là tài sản của ông Đào Văn T1 (cha ruột của T) cho T mượn làm phương tiện đi lại; ngày 27/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại xe cho ông T1. Đối với xe môtô biển số 61AA-127.04 là tài sản thuộc quyền sở hữu của Phan Nguyễn Vũ B; điện thoại Iphone 12 Promax, 256 Gb, màu vàng là tài sản thuộc quyền sở hữu của Đào Chí T. Mũ bảo hiểm màu xám, có dòng chữ Honda Bảo Tín tài sản thuộc quyền sở hữu của Trần Văn G.
Ngày 04/12/2024, cha mẹ các bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Vũ P1 tổng số tiền 18.000.000 đồng; anh P1 không yêu cầu bồi thường thêm và nộp đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Ngày 04/12/2024, cha mẹ các bị cáo đã trả cho anh Trịnh Thanh P2 3.400.000 đồng (tiền mua và sửa chữa điện thoại của anh P1). Ngày 26/02/2025, Cơ quan điều tra trả lại điện thoại Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen cho anh Nguyễn Vũ P1.
Vật chứng chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, gồm: 01 mũ bảo hiểm; 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số 61AA-127.04 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, 256 Gb, màu vàng.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKSTDM ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố các bị cáo Phan Nguyễn Vũ B, Trần Văn G, Đào Chí T và Châu Thiên P để xét xử về tội “Cướp tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Vũ B từ 07 đến 08 năm tù.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Chí T từ 05 đến 06 năm tù.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Trần Văn G từ 02 đến 03 năm tù, nhưng cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 119; Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Châu Thiên P từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm; tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số 61AA-127.04 và 01 điện thoại Iphone 12 Promax, 256 Gb, màu vàng.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn G trình bày tranh luận: Thống nhất với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo G; bị cáo G phạm tội với vai trò thứ yếu, không phải vai trò chính. Khi phạm tội bị cáo chưa thành niên, nên nhận thức còn hạn chế, bị cáo nhất thời phạm tội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát, để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Châu Thiên P trình bày tranh luận: Thống nhất với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo P. Bị cáo P là người được rủ đi phạm tội, nên vai trò của bị cáo P là thứ yếu. Khi phạm tội bị cáo mới hơn 14 tuổi nên nhận thức có phần rất hạn chế, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo P được hưởng án treo, để bị cáo sửa chữa sai lầm của bản thân.
Tại phần tranh luận, các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo G, P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến tranh luận.
Bị cáo Phan Nguyễn Vũ B nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
Bị cáo Đào Chí T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
Bị cáo Trần Văn G nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
Bị cáo Châu Thiên P nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng của vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/11/2024, tại đoạn đường vắng thuộc Khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phan Nguyễn Vũ B, Trần Văn G, Đào Chí T và Châu Thiên P đã có hành vi dùng tay, chân và mũ bảo hiểm (là phương tiện nguy hiểm) đánh anh Nguyễn Vũ P1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% nhằm chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen trị giá 4.500.000 đồng và số tiền 1.900.000 đồng trong tài khoản của anh Nguyễn Vũ P1. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo để xét xử về tội “Cướp tài sản”, quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi dùng vũ lực (đánh) bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích cá nhân nên các bị cáo đã thực hiện; do đó, các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, phải có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công chặt chẽ, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo B là người khởi xướng, rủ các bị cáo T, G và P đi phạm tội, nên bị cáo B có vai trò chính trong vụ án.
[6] Tình tiết tăng nặng đối với bị cáo B: Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội, quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Đã tích cực tác động cha mẹ bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ cho các bị cáo; tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi đủ trả lại cho bị hại; bị cáo G có ông nội là người có công với cách mạng; bị cáo B, T và G được T6, thể thao Bộ V3 chứng nhận đạt thành tích huy chương vàng (B), bạc (G), đồng (T) tại Giải vô địch Xe đạp đường trường trẻ toàn quốc - An Giang năm 2023; sau khi phạm tội, tất cả các bị cáo đều đến Cơ quan Công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo G mới 17 tuổi 09 tháng 12 ngày, bị cáo P mới 14 tuổi 01 tháng 02 ngày, nên cần áp dụng Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 119 và Điều 179 của Luật Tư pháp người chưa thành niên để quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
[8] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng; tuy nhiên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhất thời phạm tội, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đối với bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, như đề nghị của Viện kiểm sát. Đối với bị cáo G và P khi phạm tội là người chưa thành niên, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nếu không bắt bị cáo G và P đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội; do các bị cáo có đủ các điều kiện theo hướng dẫn tại các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo G và P được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, để bị cáo G và P được sửa chữa sai lầm, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[9] Như vậy, đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng, có căn cứ và đúng pháp luật.
[10] Xét, ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo G và P về đề nghị xem xét vai trò, nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cho các bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là có cơ sở.
[11] Quá trình điều tra xác định: Khi Châu Thiên P chuyển số tiền 1.900.000 đồng của bị hại vào tài khoản của ông Nguyễn Hữu Q (do anh Nguyễn Hữu H2 quản lý, sử dụng); ông Q và anh H2 không biết đây là tiền do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm là phù hợp. Đối với anh Trịnh Thanh P2, khi mua điện thoại Iphone XS Max, 64 Gb, màu đen của bị hại, không biết tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[12] Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm, nên không đặt ra giải quyết.
[13] Về vật chứng của vụ án: Mũ bảo hiểm là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với xe môtô hiệu Yamaha Exciter, biển số 61AA-127.04 thu giữ của bị cáo B và điện thoại Iphone 12 Promax, 256 Gb thu giữ của bị cáo T; đây là tài sản thuộc sở hữu của các bị cáo, các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội, nên cân tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[14] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 260, 290, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Nguyễn Vũ B, Đào Chí T, Trần Văn G và Châu Thiên P phạm tội “Cướp tài sản”;
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phan Nguyễn Vũ B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.
- Căn cứ cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Đào Chí T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2024.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119; Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp Người chưa thành niên; các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt bị cáo Trần Văn G 03 (ba) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/6/2025). Giao bị cáo Trần Văn G cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Văn G, nếu bị cáo Trần Văn G không bị tạm giam về một tội phạm khác.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 119; Điều 124 và Điều 179 Luật Tư pháp Người chưa thành niên; các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt bị cáo Châu Thiên P 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/6/2025). Giao bị cáo Châu Thiên P cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 278 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Châu Thiên P kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/6/2025).
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm màu xám, có dòng chữ H3.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe môtô đã qua sử dụng nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xám-xanh, biển số 61AA-127.04 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động) và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 12 Promax, 256 Gb, màu vàng (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 083.25 ngày 26/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T và biên bản giao nhận vật chứng số 109.25 ngày 04/4/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B).
- Về án phí: Buộc các bị cáo Phan Nguyễn Vũ B, Trần Văn G, Đào Chí T và Châu Thiên P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trường |
Bản án số 117/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp tài sản
- Số bản án: 117/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Nguyen Vu B + Đp phạm tội "Cướp tài sản"
