TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2025.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông La Văn Việt.
- Ông Nguyễn Chí Lin.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 502/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1957.
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Các đương sự đều có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 17 tháng 4 năm 2025 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày: Ông T và bà Nguyễn Thị N chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An năm 2013. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên ông xin ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
Về con chung: Ông bà chung sống với nhau không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông T về thời điểm kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nay ông T xin ly hôn, bà đồng ý.
Về con chung: Ông bà chung sống với nhau không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Các đương sự đều thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục nhưng kết quả hòa giải đoàn tụ không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị N, bà N hiện thường trú tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Trần Văn T và bị đơn là bà Nguyễn Thị N đều có đơn xin vắng mặt, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Thấy rằng, trong quá trình chung sống, ông T và bà N đều cho rằng do cuộc sống vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Mâu thuẫn giữa ông bà cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Nay ông bà thống nhất ly hôn. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tình cảm vợ chồng của ông bà không thể hàn gắn, đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà N là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Về con chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.
[5]. Về tài sản chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.
[6]. Về nợ chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.
[7]. Ông T và bà N trình bày thống nhất tất cả các vấn đề ly hôn, tuy nhiên, cả hai ông bà đều có đơn xin vắng mặt nên không thể ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của các đương sự.
[8]. Từ những nhận định như trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận.
[9]. Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 273, 483, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T đối với bà Nguyễn Thị N về việc “Ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị N.
- - Về con chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét
- - Về tài sản chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
- - Về nợ chung: Ông T và bà N thống nhất trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét.
2. Về án phí: Ông Trần Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn án phí.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T ly hôn Nguyễn Thị N
