Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số:117/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/3/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huyên

Bà Lương Thị Quyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 03/2025/HNGĐ-TLST ngày 03/01/2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2025/QĐ-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị T, sinh ngày 03/6/1991.

Địa chỉ: Khu G, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh ngày 14/01/1989.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu G, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

Hiện đang làm việc tại : Nhật Bản.

(Chị T, anh M đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn chị Trương Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh M tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện K (nay là Ủy ban nhân dân phường P, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 10/3/2014. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được 5 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Chị đã nhiều lần đưa con về gia đình bên ngoại sinh sống, anh M có hứa sẽ thay đổi nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại tiếp tục chơi lô đề, cờ bạc. Tháng 9/2024 anh M sang Nhật Bản lao động, vợ chồng sống xa nhau, anh M ghen tuông vô lý, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về quan hệ con chung: Chị và anh M có 2 con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/10/2014 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 28/9/2016, hiện nay hai con đang ở với chị, ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 2 con. Trường hợp anh M muốn nuôi một con chị cũng đồng ý. Trong thời gian anh M ở nước ngoài, chị sẽ trực tiếp chăm sóc 2 con. Chị tự nguyện không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị và anh M không có tài sản chung, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh M có nợ mẹ đẻ chị là bà Trương Thị T1 số tiền 800.000.000đồng, tuy nhiên chị và anh M sẽ tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Trường hợp sau này hai bên không thỏa thuận được, chị sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Anh Nguyễn Văn M hiện nay đang lao động tại Nhật Bản, do chị T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh M nên Tòa án đã xác minh địa chỉ của anh M thông qua gia đình. Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T2 là bố mẹ đẻ anh M xác định, anh M hiện đang lao động tại Nhật Bản, địa chỉ của anh M ở nước ngoài ông bà không biết, nhưng anh M thường xuyên liên lạc với gia đình. Ông H, bà T2 đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh M biết. Thông qua buổi làm việc của Tòa án tại gia đình, anh M đã gọi điện thoại trực tiếp thể hiện quan điểm cụ thể: Anh xác định do vợ chồng sống xa nhau dẫn đến hai bên hiểu lầm nên xảy ra mâu thuẫn, anh vẫn còn tình cảm với chị T nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị T không rút đơn ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chị T; Về con chung, để ổn định chỗ ở và tâm lý của các con, anh đồng ý để chị T nuôi cả hai con, anh sẽ có trách nhiệm với các con. Trường hợp chị T đi lấy chồng hoặc đi nước ngoài thì anh sẽ nhận nuôi hai con; Về tài sản chung, nợ chung anh và chị T tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết. Do anh mới đi nước ngoài chưa hết hạn hợp đồng lao động nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho bố mẹ đẻ nhận thay anh các văn bản tố tụng của Tòa án.

- Cháu Nguyễn Ngọc A và cháu Nguyễn Khánh N đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh M đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị T được ly hôn anh M. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/10/2014 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 28/9/2016 cho chị Trương Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn M đều có địa chỉ tại Khu G, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Hiện nay anh M đang lao động tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T không cung cấp được địa chỉ của anh M tại Nhật Bản. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh M cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Qua xác minh tại gia đình anh M được biết, anh M thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ là ông H, bà T2. Ông, bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho anh M biết. Thông qua gia đình anh M cũng đã có quan điểm về việc ly hôn và nuôi con.

Chị T, anh M đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện K (nay là Ủy ban nhân dân phường P, thị xã K), tỉnh Hải Dương ngày 10/3/2014, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Tháng 09/2024 anh M sang Nhật Bản lao động, vợ chồng mỗi người sống một nơi, thiếu sự chia sẻ, nghi ngờ nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh M. Quá trình giải quyết vụ án, thông qua gia đình anh M xác định vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh vẫn còn tình cảm nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên anh không đưa ra được biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, đồng thời anh cũng có quan điểm trường hợp chị T kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Đối với chị T mặc dù đã được biết nguyện vọng của anh M nhưng chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Do vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

- Về quan hệ con chung: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn M có hai con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/10/2014 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 28/9/2016. Ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi cả hai con. Anh M có quan điểm để ổn định cuộc sống cho các con anh đồng ý để chị T nuôi cả 2 con. Xét thấy, hiện tại cháu Ngọc A và cháu Khánh N còn nhỏ và đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Anh M đang ở nước ngoài nên không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc con chung. Do vậy để ổn định cuộc sống của 2 cháu, nên giao cho chị T được nuôi cả 2 con là phù hợp. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị T và anh Nguyễn Văn M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 02/10/2014 và Nguyễn Khánh N, sinh ngày 28/9/2016 cho chị Trương Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn M được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trương Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005459 ngày 03 tháng 01 năm 2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Anh Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Phú Thứ;
  • - Lưu hồ sơ.

5

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 117/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger