|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 117/2025/HSST Ngày: 12/3/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm
Bà Thiều Thị Phi Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Doãn Mạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2025/QĐXXST-HS ngày 25/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Ngọc L. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1994 tại Kiên Giang.
Nơi đăng ký HKTT: 63/640A, khu phố T (nay là khu phố V), phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ở: 53/57, khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân.
Họ tên cha: Ngô Hoàng E, sinh năm: 1975 (Còn sống).
Họ tên mẹ: Xa N, sinh năm: 1974 (Còn sống).
Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có chồng, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 30/9/2024, bị tạm giữ từ ngày 01/10/2024 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Ngọc L là người sử dụng trái phép ma túy tổng hợp (hàng đá).
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 30-9-2024, L sử dụng điện thoại di động hiệu Realme 5i gọi cho người đàn ông tên B (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 02 (Hai) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), B đồng ý và hẹn L đến đoạn đường Đ thuộc khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để mua bán ma túy. Sau đó, L điều khiển xe mô tô gắn biển số 60B4-203.07 đến điểm hẹn nêu trên mua của B 02 (Hai) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, L cất giấu gói ma túy nêu trên trong người để sử dụng. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, L cất giấu 02 (Hai) gói ma túy nêu trên trong túi quần phía trước bên phải L đang mặc và điều khiển xe mô tô gắn biển số 60B4-203.07 đi đến đoạn đường Đ thuộc tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường L phát hiện bắt quả tang.
Quá trình điều tra, Ngô Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội như trên.
- Vật chứng thu giữ:
- + 02 (Hai) gói nilon được hàn kín bên trong đều chứa chất màu trắng (niêm phong gửi giám định).
- + 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme 5i số imel 862386041360256 của Ngô Ngọc L sử dụng để liên lạc mua ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 1959/KL-KTHS ngày 07-10-2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,4575gam, loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 157/CT-VKSBH ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Ngô Ngọc L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Ngọc L từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng đến 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
-
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, tại đường Đ đoạn thuộc tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Ngô Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,4575gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị Công an phường L phát hiện bắt quả tang.
- Hành vi của bị cáo Ngô Ngọc L đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm lây lan các bệnh hiểm nghèo và làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Realme 5i – số imel 862386041360256 của Ngô Ngọc L là công cụ dùng vào việc phạm tội.
-
Về các vấn đề khác :
Đối với xe mô tô gắn biển số 60B4-203.07, không có số khung, số máy E114 - M203007 L sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy: L khai mượn xe mô tô của một người thanh niên tên P (không rõ lai lịch, địa chỉ) từ ngày 23-9-2024. Xác minh tại Phòng C Công an tỉnh Đ và tại Công an thành phố B, xe mô tô gắn biển số 60B4-203.07 nêu trên không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, không có trong cở sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, biển số 60B4-203.07 là của xe mô tô hiệu Honda Wave, số khung RLHHC09006Y320992, số máy HC09E6321052 do anh Lìu A S đứng tên đăng ký sở hữu. Anh S khai hiện đang quản lý sử dụng xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 60B4-203.07 nêu trên, vào khoảng tháng 9 năm 2023 anh S bị rơi mất biển số xe. Do chưa rõ nguồn gốc và chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tách ra tiếp tục tạm giữ xe mô tô gắn biển số 60B4-203.07 nêu trên xác minh làm rõ, xử lý sau.
Quá trình điều tra, Ngô Ngọc L khai sau khi mua ma túy, L đã xóa toàn bộ thông tin liên lạc với tên B trong điện thoại của L nên không xác định được số điện thoại của người đàn ông tên B đã bán mua ma túy cho L. Cơ quan điều tra đang xác minh về nhật ký cuộc gọi của L để làm rõ về số điện thoại và chủ thuê bao đã liên lạc với L thực hiện việc mua bán ma túy nhưng chưa có kết quả.
Đối với người đàn ông tên B (chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên bố bị cáo Ngô Ngọc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Ngọc L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.
-
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong số 1959/KL-KTHS ngày 07/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Realme 5i – số imel 862386041360256 của Ngô Ngọc L là công cụ dùng vào việc phạm tội.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Tâm |
Bản án số 117/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 117/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nGÔ Ngọc L - Tàng trữ trái phép chất ma túy
