|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2024/HS-ST
Ngày 09-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh .
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thu Huyền.
- Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B. Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 130/2024/HSST ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn C, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT: Bản Bông Ban, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện nay: Khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 9/12; con ông: Cà Văn T, sinh năm 1959; con bà: Cà Thị B, sinh năm 1959 đều ở bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không
- - Nhân thân: Bản án số 175 ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. C đã chấp hành xong bản án ngày 30/4/2022.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/9/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại điểm cầu thành phần).
Bị hại: Chị Phàn Thị G, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).
- - Người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan: Anh Thân Văn D, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- - Người làm chứng:
- + Chị Vương Thị L, sinh năm 1999; địa chỉ: Xóm B, xã V, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Hiện ở phòng 601, tầng F, F7 thuộc khu nhà ở xã hội của Công ty L1 thuộc thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- + Chị Triệu Thị T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Hiện ở phòng 601, tầng F, F7 thuộc khu nhà ở xã hội của Công ty L1 thuộc thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, Cà Văn C, sinh năm 1995 ở bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; Hiện thuê trọ ở khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đi đến phòng trọ của người quen là chị Phàn Thị G, sinh năm 2006 ở thôn N, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang, trọ tại phòng 601, tầng 6, F7 khu nhà ở xã hội Công ty L1 thuộc thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với mục đích mượn xe mô tô của chị G để đi lại. Khi vào phòng của chị G thì C gặp chị Vương Thị L, sinh năm 1999 ở xóm B, xã V, huyện H, tỉnh Cao Bằng và chị Triệu Thị T2, sinh năm 1990 ở xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn là người ở cùng phòng trọ với chị G thì được biết chị G đi làm không có trong phòng. Do trước đây, C có cất hộ xe mô tô cho chị G vào nhà để xe và biết chìa khoá xe mô tô chị G để ở giường ngủ nên C nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô của chị G đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. C nói dối chị L là vào để mượn sạc pin điện thoại của chị G rồi đi đến vị trí giường ngủ của chị G lấy chiếc chìa khoá xe mô tô và đi xuống nhà để xe thuộc toà nhà F8 khu nhà ở xã hội Công ty L1. C đi đến vị trí để chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen-bạc, biển kiểm soát 23AU-000.59 của chị G, mở khoá điện rồi điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ. Do biết anh Thân Văn D, sinh năm 1996 ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm nghề lái xe ôm ở cổng Công ty L1 có nhu cầu đổi xe mới nên C điều khiển xe mô tô quay lại cổng công ty L1 ICT gặp anh D đặt vấn đề bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 23AU-000.59 cho anh D. C nói dối anh D là xe mô tô của người yêu C nhờ C bán hộ, C mở cốp xe thấy có 01 đăng ký của xe mô tô biển kiểm soát 23AU-000.59 mang tên chị Phàn Thị G thì đưa cho anh D xem. Sau khi xem xe và thấy xe có giấy đăng ký nên anh D đồng ý mua và trả cho C 3.700.000 đồng, số tiền này C đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 26/9/2024, chị Phàn Thị G phát hiện bị mất trộm tài sản đã làm đơn trình báo Công an xã N, huyện Y. Cùng ngày, biết hành vi của mình đã bị phát hiện, Cà Văn C đã đến Công an xã N đầu thú. Anh Thân Văn D đã giao nộp cho Công an xã N 01 giấy đăng ký xe mô tô và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 23AU-000.59. Công an xã N đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu, vật chứng và đối tượng đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 27/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã có yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô của chị G bị C chiếm đoạt. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63 ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y, tỉnh Bắc Giang kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen-bạc, biển kiểm soát 23AU-000.59 trị giá là 6.000.000 đồng.
Đối với anh Thân Văn D có hành vi mua chiếc xe mô tô do C đem đến bán, nhưng anh D không biết chiếc xe này là do C phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý được.
Ngày 03/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phàn Thị G 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 23AU-000.59 và 01 giấy đăng ký xe mô tô. Chị G không yêu cầu C phải bồi thường thêm; Anh Thân Văn D yêu cầu C phải trả lại 3.700.000đồng, đến nay C chưa trả lại tiền cho anh D.
Tại cơ quan điều tra, Cà Văn C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản Cáo trạng số 122/CT-VKSYD ngày 25/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Cà Văn C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Cà Văn C khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất. Về trách nhiệm dân sự bị cáo nhất trí bồi thường cho anh Thân Văn D số tiền 3.700.000 đồng anh D yêu cầu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quyết định như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cà Văn C từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Cà Văn C phải bồi thường cho anh Thân Văn D 3.700.000 đồng.
- - Về án phí: Bị cáo Cà Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.
[2]. Xét về tội danh:
Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, tại khu vực nhà để xe toà nhà F8 thuộc nhà ở xã hội của Công ty L1 ở thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cà Văn C, sinh năm 1995 ở bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; trọ tại khu phố D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, màu sơn đen-bạc, biển kiểm soát 23AU-000.59 trị giá 6.000.000 đồng của chị Phàn Thị G, sinh năm 2006 ở thôn N, xã B, huyện Q, tỉnh Hà Giang, trọ tại phòng 601, tầng 6, F7 khu nhà ở xã hội Công ty L1 thuộc thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang rồi đem đến cổng Công ty L1 bán cho anh Thân Văn D, sinh năm 1996 ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang được 3.700.000 đồng chi tiêu cá nhân hết. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả cho người bị hại.
Bị cáo Cà Văn C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi được quy định tại Bộ luật hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị trừng trị nhưng vì động cơ hưởng lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Cà Văn C phạm tội : “Trộm cắp tài sản", theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 122/CT-VKSYD ngày 25/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với Cà Văn C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
[4]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bản án số 175 ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xử phạt Cà Văn C 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. C đã chấp hành xong bản án ngày 30/4/2022.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và tài sản gì, nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 03/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Phàn Thị G 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 23AU-000.59 và 01 giấy đăng ký xe mô tô. Về trách nhiệm dân sự chị G không yêu cầu bị cáo C phải bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Anh Thân Văn D yêu cầu C phải trả lại 3.700.000đồng, đến nay C chưa trả lại tiền cho anh D. Xét thấy, yêu cầu của anh Thân Văn D là chính đáng và có căn cứ nên cần buộc bị cáo Cà Văn C bồi thường cho anh Thân Văn D 3.700.000đ.
[7]. Các vấn đề khác:
Đối với anh Thân Văn D có hành vi mua chiếc xe mô tô do C đem đến bán, nhưng anh D không biết chiếc xe này là do C phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý được.
[8]. Về án phí: Bị cáo Cà Văn C là người dân tộc thiểu số scu trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, để Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Cà Văn C 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 26/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Cà Văn C phải bồi thường cho anh Thân Văn D số tiền 3.700.000 đồng.
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Cà Văn C được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
- Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đinh Thị Thu Huyền Nguyễn Thị Thủy Khơi |
THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Anh |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Cà Văn Chung phạm tội trộm cắp tài sản
