TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2024/HS-ST
Ngày: 06/12/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Hồng
Bà Trịnh Thị Thu Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày: 15/4/1989 tại Khánh Hòa. Nơi thường trú: Tổ dân phố F B, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Mai Thị C; vợ: Phan Thị Ngọc T1, con: có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018).
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn H, sinh ngày: 20/8/1997 tại Khánh Hòa. Nơi thường trú: Thôn X, xã X, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Mai Thị C; vợ: Cao Thị N, con: có 01 người con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Trần Văn T2, sinh năm: 1963; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Xin xét xử vắng mặt, vắng mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Hùng P, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng: Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 09/3/2024, Nguyễn Văn T; Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn C1 ăn nhậu tại quán B thuộc đường N, tổ dân phố M, phường C, thành phố C. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, nhóm T đi về, T điều khiển xe mô tô 79N2-947.95 chở C1; H điều khiển xe mô tô 53R7-5805, tất cả cùng đi trên đường N hướng ra cầu L. Trên đường đi, T thấy anh Trần Văn T2 đang dừng xe ô tô 86F-000.99 trên lề đường Nguyễn Chí T3 thì T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực gần cầu L rồi dừng lại nói C1 xuống xe, còn T điều khiển xe mô tô quay ngược lại vị trí xe ô tô 86F-000.99. Tại đây, T gõ cửa kính nói anh T2: "đóng tiền bãi giữ xe 200.000 đồng" thì anh T2 không đồng ý. T chửi anh T2 rồi bỏ đi. Thấy vậy, anh T2 điều khiển xe ô tô đuổi theo T để xác định T là ai thì T xuống xe đến chửi anh T2. Lúc này, H nhặt đá ném vỡ kính chắn gió bên trái phía trước xe ô tô 86F-000.99; T đồng ý với hành vi của H nên cũng lấy đá ném vỡ cửa kính ra vào phía bên phải xe ô tô 86F-000.99.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: giá trị thiệt hại của xe ô tô 86F-000.99 trên là 3.422.500 đồng.
- Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKSCR ngày 10 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn H từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù.
Vật chứng vụ án: +Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước (11x9)cm;
+ 01 xe máy 79N - 947.95 đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Văn C1 nên yêu cầu Tòa án không xem xét.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn T2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Hùng P đã nhận số tiền bồi thường 7.000.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Xe máy 53R7-5805 chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn C1 không có hành vi và ý thức cùng Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H ném vỡ kính xe ô tô 86F-000.99 nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Văn T có hành vi nói anh Trần Văn T2 đóng 200.000 đồng, anh T2 không đồng ý thì T bỏ đi. T và H có hành vi ném đá làm vỡ kính xe ô tô của anh T2 là vì anh T2 điều khiển xe ô tô đuổi theo chứ không phải ném đá làm vỡ cửa kính để đòi tiền nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T, H về hành vi phạm tội khác.
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã nêu và cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng. Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt . Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự,
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội có diễn biến như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ để xác định:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09 tháng 3 năm 2024, tại đường N, khu vực gần cầu L, bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng đá ném vỡ kính chắn gió phía trước, kính ra vào phía bên phải xe ô tô 86F-000.99, gây thiệt hại 3.422.500 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H đủ cơ sở cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát thành phố C đối với bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, xã hội ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về vai trò của các bị cáo:
Các bị cáo đồng phạm với nhau trong việc dùng đá ném vỡ kính chắn gió phía trước, kính ra vào phía bên phải xe ô tô 86F-000.99. Các bị cáo không bàn bạc, không có chủ mưu từ trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo T là người khởi xướng việc mâu thuẫn với bị hại dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo không có mâu thuẫn từ trước với bị hại nhưng khi bị cáo H thấy bị cáo T cãi nhau với bị hại thì không can ngăn bị cáo T mà lại là người thực hiện hành vi phạm tội trước nên mức độ nguy hiểm hành vi của các bị cáo như nhau và thể hiện tính côn đồ.
[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại; được chủ xe ô tô 86F-000.99 xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo, sớm hòa nhập cộng đồng làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên áp dụng điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về vật chứng vụ án:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước (11x9)cm;
- + 01 xe máy 79N - 947.95 đã trả lại cho chủ sở hữu Nguyễn Văn C1, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn T2 không yêu bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Hùng P đã nhận số tiền bồi thường 7.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự;
- - Điều 292, Điều 293, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước (11x9)cm (Vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh).
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Nga |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Th
