1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 117/2024/HS-ST
Ngày 04 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Học và bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa:
Bà Nông Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 107/2024/TLS - HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Bế Văn Đ; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 03/01/2005 tại xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng;
Nơi thường trú và nơi ở: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Bế Văn L (sinh năm 1978) và bà Triệu Thị Đ1 (sinh năm 1976); Vợ, con: Không có.
Tiền án: Ngày 08/4/2024, Bế Văn Đ bị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử 07 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, quy định tại diểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, theo Bản án số 33/2024/HS-ST ngày 08/4/2024 của Tòà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Ngày 23/5/2024, Bế Văn Đ chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
Tiền sự: Ngày 20/5/2023, bị Công an huyện T xử lý vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Bị hại:
2
- - Bà Triệu Thị T, sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- - Ông Hoàng Đình D, sinh năm 1958; Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
( Các bị hại đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 16/09/2024, Bế Văn Đ từ nhà đến chợ T1, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Do không có tiền để mua ma túy sử dụng nên Đ đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại cửa hàng tạp hóa của vợ chồng bà Triệu Thị T, sinh năm 1964, tại Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/9/2024, Đ đi bộ đên cửa hàng tạp hóa của bà T. Khi vào đến trong cửa hàng, Đ tìm mua 01 chai nước ngọt và 01 túi mì tôm trẻ em, lợi dụng có nhiều người mua hàng và thấy bà T thiếu quan sát nên Đ đã dùng tay phải với lấy 01 cây thuốc lá (gồm 10 bao thuốc lá điếu), nhãn hiệu "WHITE HORSE", vỏ bao thuốc có màu vàng - đen, trên bề mặt mỗi bao thuốc lá in hình con ngựa màu trắng để ở trên kệ hàng bên tay phải từ cửa vào, nhanh tay đút cây thuốc lá vào trong túi áo khoác đang mặc (bên nách trái), dùng tay trái và thân người bên trái để kẹp giữ lại. Sau đó, Đ quay ra chỗ bà T trả tiền chai nước và 01 gói mỳ tôm trẻ em với tổng số tiền là 6.000 đồng. Trả tiền xong, Đ đi ra khỏi cửa hàng tạp hóa thì bị bà T đi theo sau kéo áo lại, cây thuốc lá rơi xuống đất nên vỏ ni lông bọc ngoài của cây thuốc lá bị rách. Sau đó, vợ chồng bà T giữ Đ lại và trình báo Công an thị trấn T, T, tỉnh Cao Bằng. Tiến hành xác minh tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội xác định Đ có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích.
Ngày 16/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra văn bản Yêu cầu định giá tài sản. Tại Kết luận Định giá tài sản số 42 ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 cây thuốc lá điếu đầu lọc, nhãn hiệu WHITE HORSE (10 bao) tại thời điểm ngày 16/9/2024 có giá trị là 255.000 đồng (Hai trăm năm mươi năm nghìn đồng).
Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản làm việc; biên bản xác định hiện trường, bản ảnh; lời khai của bị hại và vật chứng của vụ án.
Vật chứng vụ án gồm: 01 cây thuốc lá (gồm 10 bao), loại thuốc lá điếu đầu lọc, nhãn hiệu WHITE HORSE, các bao thuốc lá còn mới chưa qua sử dụng. Quá trình điều tra đã xác định rõ chủ sở hữu, việc trả lại tài sản không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, ngày 26/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 109/CT-VKSTK ngày 06 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Bế Văn Đ ra trước Tòa án
3
nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bế Văn Đ thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa các bị hại đều vắng mặt nhưng tại Cơ quan điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt bị hại bà Triệu Thị T và ông Hoàng Đình D khai nhận về sự việc, đúng như lời khai mà bị cáo đã khai. Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo và cũng không đề nghị, yêu cầu bồi thường gì thêm.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức khi thực hiện hành vi của mình nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bế Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đ. Xử phạt bị cáo Bế Văn Đ từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo Bế Văn Đ. Cụ thể: Bế Văn Đ có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích.
4
Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 16/9/2024, tại cửa hàng tạp hóa của vợ chồng bà Triệu Thị T thuộc tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Bế Văn Đ có hành vi trộm cắp 01 cây thuốc lá (gồm 10 bao thuốc lá điếu), nhãn hiệu "WHITE HORSE", vỏ bao thuốc có màu vắng - đen, trên bề mặt mỗi bao thuốc lá in hình con ngựa màu trắng có trị giá 255.000 đồng.
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Đ nhận thức được việc làm của mình là sai, trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đ có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 255.000 đồng. Do đó, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đủ căn cứ cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tạ điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Bế Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bế Văn Đ là người nghiện ma túy nên có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi trộm cắp của mình và tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, khi quyết định hình phạt cần được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bế Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Bế Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
5
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Bế Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bế Văn Đ 09 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2024;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Bế Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Bế Văn Đ. Bị cáo Đ có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại bà Triệu Thị T và ông Hoàng Đình D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Quốc Hùng |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bế Văn Đ phạm tội trộm cắp tài sản
