Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Châu
  2. Bà Quách Thị Bích Ngà

- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thanh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Ông Lê Đức Huy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Tăng Minh T (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 05/12/1986, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: 185/6 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: 7 Đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Anh D và bà Nguyễn Thị D1. Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Ngọc L, có hai người con sinh năm 2011 và năm 2012; tiền án: Ngày 03/11/2021 bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 53/2021/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/4/2022, chưa chấp hành khoản nộp tiền án phí; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 15/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 05 phút, ngày 06/7/2024, tại trước nhà số C L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ công tác 363 số 2 của Công an Q tuần tra đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra đối với đối tượng Tăng Minh T điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen trắng, biển kiểm soát 93P1-8196. Đối tượng T không xuất trình được giấy phép lái xe. Qua kiểm tra, Công an phát hiện túi quần trước bên phải của đối tượng T có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể nghi là ma túy. Đối tượng Tăng Minh T khai nhận túi nylon chứa tinh thể trên là ma túy đá. Tổ tuần tra 363 số 2 đã bàn giao đối tượng Tăng Minh T cùng phương tiện và vật chứng cho Công an Q, Quận A lập biên bản phạm tội quả tang. Đối tượng T thừa nhận số ma túy trên là của đối tượng T mua để sử dụng. Đối tượng T khai mua của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại đầu hẻm D N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 06/7/2024, Công an Q, Quận A lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tăng Minh T.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của bị can T; kết quả dương tính với A và M.

Qua khám xét nơi ở của bị can T, Cơ quan điều tra không thu giữ được gì. Tại nơi ở của bị can T có đối tượng Châu Thị Bích N (sinh năm 1990; hộ khẩu thường trú: 4A125 tổ 9 ấp D, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh). Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của đối tượng N; kết quả dương tính với A và M. Đối tượng N khai nhận quen vơi bị can T khoảng 02 năm, từ tháng 5 năm 2024 đối tượng N chuyển đến ở chung với bị can T tại nhà số G Đường số A, phường B, quận B. Đối tượng N sử dụng chung ma túy với bạn, không sử dụng chung ma túy với bị can T và không biết việc bị can T có cất giấu ma túy tại nhà trọ.

Ngày 11/7/2024, Phòng K Công an Thành phố H có kết luận giám định số 8175/KL-KTHS kết luận: Tinh thể trong gói nylon được niêm phong thu giữ trên người của bị can T là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5031 gam. Sau giám định còn lại 0,3075 gam.

Vật chứng thu giữ:

  • Một gói nylon chứa tinh thể là ma túy của Tăng Minh T để sử dụng. Sau giám định còn lại 0,3075 gam.
  • Một điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh (bị can T dùng để liên lạc mua ma túy).
  • Một điện thoại di động hiệu Samsung S10 do bị can T dùng để liên lạc mua ma túy.
  • Một điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, đã bị hỏng, bị can T không sử dụng.
  • Một xe mô tô hai bánh hiệu Sirius màu đen trắng, biển số 93P1-8196, bị can T dùng để đi mua ma túy. Chủ sở hữu xe là bà Nguyễn Thị Thu H (sinh năm 1990; cư trú: Khu H, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước). Bà H khai nhận đã bán xe này và không lưu giấy mua bán xe. Bị can T khai nhận đã mua xe này tại hiệu cầm đồ (không nhớ địa chỉ) từ năm 2023 với giá 4.500.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 128/CT-VKSQ11 ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Tăng Minh T tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Tăng Minh T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Q và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000 đồng; đề nghị xử lý vật chứng như sau:

  • Tịch thu tiêu hủy một gói niêm phong là ma túy còn lại sau giám định.
  • Tịch thu sung vào công quỹ một điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh và một điện thoại di động hiệu Samsung S10.
  • Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu bạc.
  • Tiếp tục đăng báo để truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô hai bánh hiệu Sirius màu đen trắng, biển số 93P1-8196. Trong trường hợp không truy tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào lúc 20 giờ 05 phút ngày 06/7/2024, tại trước nhà số C L, Phường A, Quận A, bị cáo Tăng Minh T đã có hành vi cất giữ một gói nylon chứa chất ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,5031 gam, loại Methamphetamine.

Bị cáo Tăng Minh T khai nhận bản thân nghiện ma túy và cất giữ ma túy để sử dụng. Lời khai này phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo do Bệnh viện Q1 thực hiện vào ngày 06/7/2024.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo tàng trữ chất ma túy là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,5031 gam (không phẩy năm không ba một gam) nên thuộc trường hợp phạm tội quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có một tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng là một gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh và một điện thoại di động hiệu Samsung S10, là phương tiện do bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy, sử dụng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với vật chứng là một điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu bạc, đã bị hỏng; bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.

Đối với vật chứng là một xe mô tô hai bánh hiệu Sirius màu đen trắng, biển số 93P1-8196, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Tăng Minh T sử dụng chiếc xe nêu trên vào việc phạm tội nhưng chiếc xe nêu trên chưa xác định được chủ sở hữu nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về xem xét việc phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:

Do bị cáo có việc làm không ổn định, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành khoản nộp phạt nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự để phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Tăng Minh T, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T tại đầu hẻm D N, Phường A, Quận H, do chưa xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét đối với đối tượng nêu trên.

Đối với đối tượng Châu Thị Bích N không biết bị cáo Tăng Minh T có hành vi cất giấu ma túy nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự; tuy nhiên, đối tượng N nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định nên Công an Q, Quận A đã lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Nghị định 116/2021/NĐ-CP.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Tăng Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Tăng Minh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/7/2024.

Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy một gói được niêm phong là ma túy còn lại sau giám định (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1357/LNK-ĐCSMT ngày 28/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước một điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh và một điện thoại di động hiệu Samsung S10 (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1357/LNK-ĐCSMT ngày 28/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Trả lại cho bị cáo Tăng Minh T một điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu bạc (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1357/LNK-ĐCSMT ngày 28/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Giao cho cơ quan thi hành án dân sự thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe mô tô hai bánh hiệu Sirius màu đen trắng, biển số 93P1-8196. Quá thời hạn trên kể từ ngày cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1357/LNK-ĐCSMT ngày 28/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PC 27 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Cơ Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger