Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số:117/2024/HS-PT

Ngày : 12/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các thẩm phán:

Bà Đoàn Thị Hương Nhu

Bà Đoàn Thị Thu Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 12/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 133/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

* Các bị cáo kháng cáo:

  1. Nguyễn Bá M, sinh năm 1992, ĐKHKTT: thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Bá V, sinh năm 1968 và con bà Phạm Thị L, sinh năm 1967; có vợ: chị Lê Thị H, sinh năm 1992; có 04 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: bị bắt tạm giam từ ngày 08/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Lô Thị Đ, sinh năm 1987, ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lô Văn D – đã chết và con bà Lương Thị H1, sinh năm 1965; có chồng: Anh Lê Xuân P, sinh năm 1985 (đã ly hôn); có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bào chữa cho bị cáo Đ: Ông Nguyễn Duy H2 – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H (có mặt).

*Bị hại:

  1. Cháu Nguyễn Huy H3, sinh ngày 05/12/2007 (vắng mặt).
    Người đại diện hợp pháp của anh H3: Ông Nguyễn Tuấn D1, sinh năm 1978. Trú tại: Số B, L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
  2. Cháu Hoàng Văn C, sinh ngày 23/3/2006 (vắng mặt).
    Người đại diện hợp pháp của anh C: Bà Hoàng Thị Hương H4, sinh năm 1974. Trú tại: Số C N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Đỗ Phương L1, sinh ngày 31/12/2006 (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của cháu L1: Ông Đỗ Tuấn A, sinh năm 1975. Trú tại: Số H Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Cháu Nghiêm Thúy A1 (vắng mặt).
    Người đại diện hợp pháp của cháu A1: Ông Nghiêm Việt N ( vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn P1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bá M, Lô Thị Đ có quan hệ tình cảm với nhau và cùng thuê trọ tại thôn L, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương. Do cần tiền tiêu xài nên M và Đ cùng rủ nhau đi trộm cắp xe máy điện tại khu vực công viên B, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

Khoảng 13 giờ ngày 22/3/2024, M điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX F1 màu đen không đeo biển số chở Đ đi từ phòng trọ đến công viên B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Khi đến công viên B tại mặt đường C, phường Q, thành phố H, M xuống xe đi bộ vào trong công viên tìm xem có ai dựng xe máy điện sơ hở thì báo cho Đ đến trộm cắp, M ngồi chờ Đ lấy được xe thì M sẽ điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX F1 dùng chân đẩy xe điện Đ trộm cắp được. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, M quan sát thấy cháu Nguyễn Huy H3 sinh năm 2007 ở số B L, phường N, Thành phố H, tỉnh Hải Dương điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Dibao biển số 34MĐ1-601.88 chở sau là cháu Nghiêm T An sinh năm 2007 ở 1 Đ, phường B, thành phố H đi đến dựng xe máy điện trên phố C ở khu vực sát vỉa hè công viên, xe không khóa cổ, khóa càng. Thấy cháu H3, cháu A1 đi vào trong công viên, M sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh lắp sim số 0869.729.780 và 0869.242.080 nhắn tin đến tài khoản zalo “Minh Định” đăng ký bằng số điện thoại 0342.769.xxx của Đ với nội dung: “vợ ra đi”, Đ hiểu là M bảo ra chỗ phố C để trộm cắp xe máy điện nên Đ đi ra gặp M, M chỉ cho Đ vị trí xe máy điện nhãn hiệu Dibao biển số 34MĐ1-601.88 nên Đ đưa xe mô tô Honda Wave RSX F1 cho M còn Đ đi đến vị trí xe máy điện biển số 34MĐ1-601.88 gạt chân chống, dong xe ra vị trí Minh đợi rồi ngồi lên xe máy điện còn M điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX F1 dùng chân đạp vào phía sau xe máy điện mà Đ đang điều khiển. Lúc này cháu H3 phát hiện thấy xe bị trộm cắp nên đã tri hô, đuổi theo M, Đ đến đường ngã tư C - T, phườn Q thì M, Đ bị tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an thành phố H cùng quần chúng nhân dân bắt giữ, lập biên bản vụ việc. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao Gogo SS màu đen - xám biển số 34MĐ1-601.88; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen, số khung RLHJA3836PY205156, số máy JA52E-0542106; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh số Imei 1: 865822054999413, lắp sim số 0969.729.780 và 0869.242.080 của M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ có số Imei1: 865222041615018 của Đ.

Quá trình điều tra, xác định M, Đ còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 15/3/2024, cụ thể như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 15/3/2024, M điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX F1 màu đen không đeo biển số chở Đ đi từ phòng trọ đến công viên B, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Khi đến công viên B, thành phố H thì M xuống xe đi bộ vào trong công viên để tìm xem có ai dựng xe máy điện sơ hở thì báo cho Đ đến trộm cắp. Khoảng 20 giờ cùng ngày, M thấy cháu Hoàng Văn C sinh năm 2006 ở số C N, phường T, thành phố H dựng xe máy điện hãng Dibao gogo màu đen xám biển số 34MĐ1-595.66 (là xe mượn của cháu Đỗ Phương L1 sinh năm 2006 ở số H Đ, phường T, thành phố H) tại khu vực khoảng đất trống trên mặt đường C, xe không khóa cổ, khu vực để xe không có ai trông coi, quản lý. M sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh lắp sim số 0869.729.780 và 0869.242.080 nhắn tin cho Đ bảo ra lấy trộm xe máy điện. Đ điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX F1 đến vị trí M bảo, Đ đi đến vị trí dựng xe máy ngồi lên xe còn M điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX F1 đi phía sau, dùng chân đẩy vào xe máy điện biển số 34MĐ1-595.66 mà Đ đang điều khiển đi về phòng trọ cất giấu.

Ngày 22/3/2024, Nguyễn Bá M tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao màu đen không đeo biển số, số khung RL9YGEK11MAF00721; số máy QS60V1000W210325352465. Minh xác định là chiếc xe trộm cắp vào ngày 15/3/2024.

Ngày 26/3/2024, cháu Hoàng Văn C có đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H.

Kết luận định giá tài sản số 17 ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thành phố H: 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao Gogo S3 màu đen - xám biển số 34MĐ1-595.66 trị giá: 7.500.000 đồng; 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Dibao Gogo SS màu đen - xám biển số 34MĐ1-601.88 trị giá: 7.000.000 đồng.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá M và Lô Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá M 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 08/5/2024.

Xử phạt bị cáo Lô Thị Đ 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn quyết định về việc xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Bá M và bị cáo Lô Thị Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương sau khi phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của các bị cáo đã có quan điểm: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần nên mặc dù tại cấp phúc thẩm các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng xét thấy mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Đ có quan điểm: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Đ. Tuy nhiên thực tế sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện tại bị cáo đang nuôi con nhỏ. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.

[2]. Về nội dung: Tại phiên toà các bị cáo M, Đ đều khai nhận trong các ngày 22/3/2024 và ngày 15/3/2024 các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 2 xe máy điện của các cháu Nguyễn Huy H3 và Hoàng Văn C, tổng giá trị của 2 chiếc xe là 14.500.000 đồng. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cùng nhau 2 lần thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, như vậy mới đảm bảo được sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên xét thấy sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự khai ra hành vi trộm cắp ngày 15/3/2024 nên được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo M có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Đ có bố đẻ được tặng kỷ niệm chương của Hội C1. Bên cạnh đó căn cứ giấy khai sinh của cháu Lô Thị Ánh T1 (sinh ngày 29/3/2024) và lời khai của bị cáo Đ tại phiên tòa cho thấy, tại thời điểm phạm tội bị cáo Đ đang có thai, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lần đầu phạm tội, các tài sản trộm cắp đã được trả lại cho người bị hại. Bị cáo Đ là người dân tộc T2 có hoàn cảnh gia đình thuộc hộ cận nghèo, hiện đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, xem xét giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Bá M, Lô Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Bá M, Lô Thị Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Bá M, Lô Thị Đ như sau:

Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; thêm điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối vơi bị cáo Lô Thị Đ; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá M và Lô Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản".

2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá M 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam 08/5/2024.

Xử phạt bị cáo Lô Thị Đ 07 (bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Bá M, Lô Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Hải Dương;
  • -Phòng HSNV-Công an tỉnh Hải Dương;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • -TAND TP Hải Dương;
  • -VKSND TP Hải Dương;
  • -CQCSĐT Công an TP Hải Dương;
  • -Chi cục THADS TP Hải Dương;
  • - Các bị cáo;
  • - Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương;
  • -Lưu hồ sơ, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hiền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 117/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger