Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HS-ST

Ngày 06/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thuý Hà và ông Hà Hữu Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang V - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 09/10/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 28/2024/HS-ST ngày 22/10/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hải T; sinh ngày 16/5/2000, tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thế T1, sinh năm 1981 và bà Linh Thị T2, sinh năm 1981; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt)

- Bị hại: Anh Mai Thanh T3, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Thôn C T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Nguyễn Trọng T4, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Thôn H, xã L, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. (vắng mặt).

2. Anh Trần Thế N, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

3. Chị Linh Thị T2, sinh năm 1981

Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 6 năm 2024, tại thành phố T, Nguyễn Hải T, trú tại thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang do không có tiền chi tiêu cá nhân nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 11/6/2024, Nguyễn Hải T ngồi chơi tại quán bi- a “Mười” thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang sử dụng ứng dụng “Messenger" gọi cho bạn là anh Mai Thanh T3, trú tại thôn C T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang để nhờ T3 đến đón về nhà thì anh T3 đồng ý, điều khiển xe môtô biển số 22B1 - 412.29 (xe T3 mượn của anh Trần Thế N, trú tại thôn T, xã T, xe được bố vợ N là ông Nguyễn Trọng T4, trú tại thôn H, xã L, thành phố T cho nhưng chưa sang tên) đi từ phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đến đón T về nhà.

Trên đường về đến quán internet “Quang Khuẩy” thuộc thôn A, xã K, thành phố T thì T nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt xe môtô của anh T3, mục đích mang đi vay cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân nên T nó dối anh T3 “Ngồi ở quán internet chơi, cho tôi mượn xe để đi về nhà có tí việc”. Do quen biết T từ trước, T3 tin tưởng và đồng ý giao chiếc xe môtô trên cho T mượn rồi vào quán internet “Quang K” chơi.

Khi nhận được xe của anh T3, T một mình điều khiển chiếc xe môtô trên đến nhà anh Nguyễn Mạnh C, trú tại tổ dân phố B, phường H, thành phố T. Tại đây, T đặt vấn đề vay anh C 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và tự nguyện để lại chiếc xe môtô trên tại nhà anh C để làm tin, T hứa khoảng 10 ngày sau sẽ trả đủ tiền cho anh C thì anh C đồng ý, đưa tiền cho T. Nhận được tiền, T chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.

Đối với T3, khi không thấy T trả lại xe cho mình nên nhiều lần liên hệ với T, yêu cầu T trả lại xe cho mình, T nói với anh T3 mang chiếc xe môtô trên đi đặt tài sản làm tin để vay tiền, xin anh T3 cho thời gian để trả lại. Đến ngày 21/6/2024, do không có khả năng trả lại số tiền đã vay cho anh C để lấy lại xe trả cho T3 nên Thanh chặn liên lạc với anh T3.

Ngày 29/7/2024, Mai Thanh T3 tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hải T đến Cơ quan điều tra Công an thành phố T đề nghị giải quyết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 27 ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Giá trị của xe môtô biển số 22B1-412.29, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ-đen, số máy: F33E-0300686, số khung: 3309CY634526 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 9.600.000 đồng (Chín triệu, sáu trăm nghìn đồng).

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ đen, số máy F33E-0300686, số khung 3309CY634526, biển số 22B1 - 412.29, xe đã qua sử dụng (được niêm phong theo quy định).

Xử lý vật chứng: Quyết định xử lý vật chứng số 1248 ngày 17/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Quyết định: Trả lại xe mô tô biển số 22B1-412.29, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ đen (số máy: F33E-0300686, số khung: 3309CY634526), xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Trọng T4, trú tại thôn H, xã L, thành phố T.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Mai Thanh T3 không yêu cầu, đề nghị về việc bồi thường dân sự.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Mạnh C yêu cầu bị cáo T trả lại số tiền 3.000.000 đồng vay, được mẹ của bị cáo T là bà Linh Thị T2 (trú cùng địa chỉ bị cáo) trả 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), anh Công nhận tiền, không yêu cầu, đề nghị gì khác.

Đối với chủ sở hữu hợp pháp xe môtô biển số 22B1-412.29 là ông Nguyễn Trọng T4, ông T4 nhận lại xe, không yêu cầu, đề nghị khác.

Cáo trạng số 112/CT-VKSYS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Hải T về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Hải T theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; áp dụng: Khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải T từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 31/7/2024.

Về vật chứng: Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Quyết định: Trả lại xe mô tô biển số 22B1-412.29, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ đen (số máy: F33E-0300686, số khung: 3309CY634526), xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Trọng T4, trú tại thôn H, xã L, thành phố T.

Về phần dân sự: Bị hại anh Nguyễn Thanh T5 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu đề nghị gì, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí; áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Bị hại anh Mai Thanh T3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Linh Thị T2 tại phiên toà nhất trí luận tội của kiểm sát viên, đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự không ai có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Hải T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hải T tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng vật chứng thu giữ, kết luận giám định, định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/6/2024, tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Hải T, trú tại thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là xe mô tô biển số 22B1 - 412.29 của anh Mai Thanh T3, trú tại thôn C T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang với trị giá 9.600.000 đồng (Chín triệu, sáu trăm nghìn đồng). Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i, s, khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng mối quan hệ bạn bè quen biết và lòng tin với anh Mai Thanh T3 đưa ra thông tin gian dối để tạo niềm tin rồi chiếm đoạt tài sản, bị cáo thực hiện tội phạm với động cơ vụ lợi, mục đích nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô mang đi đặt tài sản làm tin để vay tiền, sử dụng số tiền vào mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ở giai đoạn đã hoàn thành với lỗi cố ý, nên buộc bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, giữ vững an ninh tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6] Phần dân sự: Bị hại anh Mai Thanh T3 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Linh Thị T2 không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền mà chị đã trả cho anh Nguyễn Mạnh C, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng: Ngày 17/9/2024, cơ quan điều tra Công an thành phố T đã trả lại xe mô tô biển số 22B1 -412.29, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ đen (số máy F33E – 0300686, số khung: 3309CY 634526), xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Trọng T4, trú tại thôn H, xã L, thành phố T. Nên HĐXX không xem xét giải quyết

[8] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Mạnh C là người cho T vay tiền, để xe làm tin nhưng không biết chiếc xe môtô biển số 22B1-412.29 trên là do T phạm tội mà có, nên không xem xét, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hải T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

-Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 31/7/2024.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Hải T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo Nguyễn Hải T, bị hại anh Mai Thanh T3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Linh Thị T2 có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng T4, anh Trần Thế N vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKS ND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKS ND thành phố Tuyên Quang;
  • - Công an thành phố T;
  • - Chi cục THADS thành phố T;
  • - Sở Tư pháp Tuyên Quang;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 117/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger