|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
|
Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-8-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN
NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH –TỈNH AN GIANG
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thạch Út
- Ông Bùi Anh Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Cẩm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2024/QĐHST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 và giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ D (Hiền), sinh năm 1985 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Lương Th, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Nơi cư trú: khóm Mỹ H, thị trấn Mỹ L, huyện Chợ M, tỉnh An G
Nơi cư trú: Ấp Bình A 2, xã An H, huyện Châu Th, tỉnh An G
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 14/5/2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Th tự tìm hiểu, tiến tới hôn nhân năm 2014 có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang số 38 quyển số 01/2014 ngày 31/3/2014. Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cự cãi không hạnh phúc. Năm 2017 vợ chồng ly thân nhau. Chị và anh Th hàn gắn tình cảm vợ chồng về chung sống. Sau khi về chung sống, vợ chồng vẫn không hạnh phúc. Từ tháng 4/2019 vợ chồng ly thân lần 02 nhau cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh Th nên yêu cầu ly hôn.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trí Th sinh ngày 13/4/2015. Hiện cháu Th đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Lương Th vắng mặt trong quá trình tố tụng
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ D vẫn giữ yêu cầu ly hôn; về con chung: yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Lương Th vắng mặt tại phiên tòa không tham gia tố tụng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp: chị Lê Thị Mỹ D có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ văn bản trình bày ý kiến; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; Căn cước Công dân do anh Th gửi đến Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thể hiện: “anh Th có nơi thường trú tại ấp Bình An 2, xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang" Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng thực hiện theo quy định tại 179 BLTTDS 2015. Anh Th không có mặt tại phiên tòa khi được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Th
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: giữa chị D với anh Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang số 38 quyển số 01/2014 ngày 31/3/2014 phù hợp với quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 3, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D với anh Th. Mục đích tạo điều kiện cho anh chị đoàn tụ; nhưng chị D vẫn giữ yêu cầu ly hôn; anh Th không đến Toà án để tham gia tố tụng, nhưng có văn bản trình bày ý kiến ngày 14/5/2024 gửi Tòa án thể hiện nội dung: “...anh đồng ý ly hôn; đồng ý giao con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng; Tài sản chung nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Có ý kiến xin vắng mặt vì đang đi làm xa..... Điều này thể hiện cả anh chị không ai muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Giữa chị D và anh Th đã ly thân một thời gian dài, trong khoảng thời gian ly thân cả hai không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Như vậy cả anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt theo quy định tại Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014. Do đó, yêu cầu của chị D có căn cứ được HĐXX xem xét chấp nhận.
2.2 Về con chung: Giữa chị D với anh Th có 01 con Nguyễn Trí Th sinh ngày 13/4/2015 hiện con đang sống với chị D. Khi ly hôn, chị yêu cầu tiếp tục nuôi con chung; không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung
Anh Th có văn bản trình bày ý kiến đồng ý giao con chung cho chị D tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa, cháu Nguyễn Trí Th trình bày ý kiến có nguyện vọng tiếp tục sống chung với mẹ (chị D). Do đó, phù hợp với quy định tại các Điều 53, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Chị D cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: HĐXX không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm:
Chị Lê Thị Mỹ D là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[4] Quyền kháng cáo:
Chị D, anh Th có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 5, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ D; Chị D được ly hôn với anh Nguyễn Lương Th
- Về con chung: Chị Lê Thị Mỹ D được tiếp tục nuôi chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cháu Nguyễn Trí Th sinh ngày 13/4/2015. Chị D phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh Th trong việc được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
- Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ D phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004711 ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Mỹ D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06.8.2024); Riêng anh Nguyễn Lương Th có quyền kháng cáo bản án kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Thùy Trang |
Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà D ly hôn ông TH
