|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 117/2024/HSST Ngày: 21-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thắng
Bà Nguyễn Phương Ly
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đức D; sinh năm 1988; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số [...]; nơi thường trú: số I đường M, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; cư trú: số A đường C, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Mạnh T và bà Đặng Thị Kim D1; có vợ là Vũ Thị Thúy H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: bản án số 267/2020/HSST ngày 09-9-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Đức D 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-11-2023, chuyển tạm giam ngày 02-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Phát H1; sinh năm 1994; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số [...]; nơi cư trú: xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Phát H2 (đã chết) và bà Hoàng Thị T1; có vợ là Lê Minh H3 đã ly hôn và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-11-2023, chuyển tạm giam ngày 02-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Huỳnh Đăng N; sinh năm 1990; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Nam Định; căn cước công dân số [...]; cư trú: số D đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Huỳnh C và bà Lê Thị N1 (đã chết); có vợ là Lê Thu T2 đã ly hôn và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-3-2024, chuyển tạm giam ngày 11-3-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình K và anh Ngô Mạnh T3 (không triệu tập tham gia phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 22-11-2023, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp Công an phường T, thành phố N phát hiện Nguyễn Đức D, Trần Phát H1 và Ngô Mạnh T3, sinh năm 1990, trú tại 4 đường T, phường T, thành phố N đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của D ở A đường C, phường T, thành phố N. Vật chứng thu giữ: 01 gói ni lông màu trắng kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu A1; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 đoạn ống thuỷ tinh dài khoảng 14cm, có một đầu hình cầu, đường kính khoảng 1,5cm bên trong hình cầu có chất bám dính dạng tinh thể rắn màu trắng (niêm phong ký hiệu A2), 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 17cm, đường kính khoảng 06cm có nắp màu đen, trên nắp được cắm một đoạn ống hút bằng nhựa màu tím. Ngoài ra, tạm giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, đã cũ và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức D; Huỳnh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, đã cũ; T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, đã cũ.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Đức D địa chỉ 145 đường C, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định thu giữ trong phòng ngủ của D: 01 bật lửa ga màu đỏ, đã cũ để trên giường ngủ; 01 gói nilong màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A3) để ở dưới chiếu trên mặt giường; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Vario màu đỏ, biển kiểm soát 18B2-376.83 để ở trong sân nhà D; Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Phát H1 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định thu giữ 01 căn cước công dân mang tên Trần Phát H1.
Cơ quan điều tra thu giữ 03 mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức D, Trần Phát H1 và Ngô Mạnh T3 lần lượt niêm phong ký hiệu T01, T02, T03.
Bản kết luận giám định số 1677/KL KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 03 (ba) phong bì thư được niêm phong ký hiệu A1, A2, A3 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu A1: 0,056 gam, Khối lượng mẫu A2: 0,052 gam, Khối lượng mẫu A3: 0,273 gam.
Bản kết luận giám định số 1676 ngày 24/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Đều tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong 03 (ba) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu T01, T02, T03 gửi giám định.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức D và Trần Phát H1 khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 22/11/2023, D liên lạc với Huỳnh qua ứng dụng Messenger từ điện thoại di động Oppo, màu đen của D có số thuê bao 0912.962.515 gọi đến số điện thoại di động Iphone, màu vàng có số thuê bao 0862.933.141 của H1 rủ nhau góp tiền mua ma túy sử dụng, H1 đồng ý. Đến 10 giờ 20 phút cùng ngày, H1 dùng điện thoại chuyển 200.000 đồng từ tài khoản 0862.933.141 đăng ký tại ngân hàng thương mại cổ phần Q đến điện thoại của D có số tài khoản 108871018037 đăng ký tại ngân hàng V. Nhận tiền H1 chuyển khoản, D gọi điện cho Ngô Mạnh T3, sinh năm 1990, trú tại số D đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định hỏi mượn xe máy nói đi có việc riêng (T3 không biết D đi đâu, làm gì), T3 đồng ý. Đến khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, H1 đi xe taxi đến nhà D ở A đường C, phường T, thành phố N, lúc này T3 đi xe máy biển kiểm soát 18B2 -376.83 đến nhà D đưa xe cho D mượn. Sau đó, D lấy xe máy đi mua ma túy, trên đường đi D gọi điện thoại cho Huỳnh Đăng N, sinh năm 1990, trú tại 4 N, phường V, thành phố N (là bạn xã hội) qua ứng dụng M hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá (D lưu trong danh bạ điện thoại của D là “E Nam Nguyễn T4”), N đồng ý, hẹn D ra khu vực đường N, phường V, thành phố N để giao dịch. Khi đến gặp N, D chuyển 300.000 đồng (trong đó có 100.000 đồng của D và 200.000 đồng của H1 chuyển khoản cho D) từ tài khoản ví Momo của D đến tài khoản ví Momo của N đăng ký bằng số điện thoại 0963.080.xxx. N nhận tiền, đưa cho D 01 gói ma túy đá. D cầm gói ma túy, điều khiển xe máy đi về nhà. Lúc này H1 và T3 đang ở nhà D, D đi vào phòng ngủ lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên giường, rồi mở gói ma túy đá vừa mua ra đổ một ít ma túy vào trong cóng thủy tinh, D dùng bật lửa ga màu đỏ đốt cóng thủy tinh lên và sử dụng ma túy bằng hình thức hút. D sử dụng xong, đến lượt H1 lấy cóng thủy tinh sử dụng ma túy bằng hình thức hút như D. Khi thấy D và H1 sử dụng ma túy, T3 thấy trong cóng thủy tinh vẫn còn ma túy đá nên tự ý lấy các dụng cụ có sẵn sử dụng ma túy, D và Huỳnh nhìn thấy để mặc cho T3 sử dụng hút ma túy. Số ma túy còn lại, D gói lại để trên giường tiếp tục sử dụng, D và H1 chưa kịp sử dụng hết số ma túy còn lại thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ tại nhà Nguyễn Đức D khai nhận: Trước khi bị bắt, khoảng một tuần (D không nhớ thời gian cụ thể), D mua của một nam thanh niên (không biết tên, tuổi, địa chỉ) mang đến nhà bán cho D với giá 300.000 đồng, D đã lấy một ít ma túy ra để sử dụng, nhưng thấy chất lượng ma túy kém nên để lại và cất giấu dưới chiếu trên mặt giường trong phòng ngủ của D và khẳng định không nói cho ai biết việc D cất giấu ma túy để sử dụng. H1 khai không biết việc D cất giấu gói ma túy này để sử dụng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã triệu tập Huỳnh Đăng N lên làm việc nhiều lần nhưng N bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 26-01-2024, Cơ quan điều tra ra quyết định truy tìm đối với N.
Ngày 05-3-2024, Huỳnh Đăng N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú và khai nhận: Khoảng 07 giờ sáng ngày 22-11-2023, N đi xe máy từ nhà đến khu vực đường N, phường L, thành phố N gặp một người phụ nữ (không quen biết) hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá về bán kiếm lời, người phụ nữ nhận tiền đưa cho N 01 gói nilong màu trắng, kích thước khoảng (2x2)cm, bên trong có chứa ma túy tổng hợp dạng đá. N cầm gói ma túy cất vào túi quần bên phải đang mặc, điều khiển xe đi về nhà; đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi N đang ở nhà thì D gọi điện thoại cho N hỏi mua ma túy đá, sau đó N mang gói ma túy trên bán cho D với giá 300.000 đồng, D nhận gói ma túy N đưa và chuyển số tiền này vào tài khoản ví Momo qua điện thoại di đông Oppo màu trắng của N, N lãi được 100.000 đồng từ việc bán ma túy, số tiền trên N tiêu sài cá nhân hết (lời khai của N phù hợp lời khai của D). N tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra 01 điện thoại di động Oppo màu trắng, đã cũ.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh số tài khoản Ngân hàng xác định chủ sở hữu số tài khoản 108871018037 đăng ký tại ngân hàng V là của Nguyễn Đức D, chủ sở hữu số tài khoản 0862.933.141 đăng ký tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q là Trần Phát H1, tài khoản Ví MoMo đăng ký bằng số điện thoại 0963.080.xxx là của Huỳnh Đăng N. Hiện chưa có kết quả xác minh số sim di động lắp trong điện thoại của H1 (0862.933.141), D (0912.962.515) và (N) 0963.080.290 nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.
Bản cáo trạng số 114/CT-VKSND-TPNĐ ngày 02-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Phát H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Huỳnh Đăng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Trần Phát H1, Nguyễn Đức D, Huỳnh Đăng N khai nhận hành vi vi phạm pháp luật như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D từ 7 năm 3 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D từ 1 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Trần Phát H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Trần Phát H1 từ 7 năm đến 7 năm 06 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Huỳnh Đăng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Huỳnh Đăng N từ 30 đến 36 tháng tù, phạt tiền từ 5 triệu – 7 triệu đồng, truy thu số tiền 300.000 đồng của bị cáo Huỳnh Đăng N để sung quỹ nhà nước.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Đức D, bị cáo Trần Phát H1.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đức D, Huỳnh Đăng N, Trần Phát H1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ lời khai của các bị cáo Nguyễn Đức D, Huỳnh Đăng N, Trần Phát H1 trong quá trình điều tra và tại phiên toà, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vật chứng thu giữ, biên bản khám xét, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định số 1677/KL KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N và bản kết luận giám định số 1676 ngày 24/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 22-11-2023, tại nhà của bị cáo Nguyễn Đức D ở A đường C, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Nguyễn Đức D và bị cáo Trần Phát H1 đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và bỏ mặc để cho Ngô Mạnh T3 cùng sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Đăng N đã có hành vi bán trái phép số Methamphetamine trên cho bị cáo D với giá 300.000 đồng để kiếm lời.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta. Lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo Nguyễn Đức D đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Phát H1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Huỳnh Đăng N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Phát H1 và Huỳnh Đăng N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Nguyễn Đức D có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Huỳnh Đăng N đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau, hỗ trợ cho nhau thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm giản đơn, bị cáo D chủ động rủ bị cáo H1, bàn bạc thống nhất với Huỳnh việc góp tiền mua ma túy, là người trực tiếp gọi điện giao dịch mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm để bị cáo D, bị cáo H1 và đối tượng T3 sử dụng ma tuý. Bị cáo Huỳnh giữ vai trò đồng phạm với D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, là người đã cùng bị cáo D bàn bạc thống nhất việc góp tiền mua ma túy về sử dụng tại nhà của bị cáo D. Cả bị cáo D và bị cáo H1 đều bỏ mặc để cho T3 sử dụng ma tuý cùng. Còn bị cáo Huỳnh Đăng N thực hiện hành vi phạm tội độc lập, là người trực tiếp đi mua ma tuý, giao dịch bán ma tuý cho bị cáo Nguyễn Đức D để kiếm lời. Do đó, xác định bị cáo Nguyễn Đức D là người khởi xướng, rủ bị cáo Huỳnh góp tiền mua ma túy và trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất; bị cáo Trần Phát H1 góp tiền đưa cho bị cáo D mua ma túy cùng sử dụng nên giữ vai trò thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo D, H1 không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, bị cáo N bị áp dụng hình phạt bổ sung tiền
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm mua bán, lưu hành; một bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng, hết ga; một chai nhựa màu trắng cao khoảng 17cm, đường kính khoảng 06 cm, có nắp màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa máu tím tất cả đều không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã cũ, một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã cũ, một chiếc điện thoại di động màu trắng đen đã cũ mặt sau có chữ Oppo là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Một căn cước công dân mang tên Trần Phát H1 và một căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức D là tài sản hợp pháp của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án
Số tiền 300.000 đồng là số tiền bị cáo N phạm tội mà có nên truy thu
[6] Chiếc xe máy biển kiểm soát 18B2- 376.83 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu hồng là tài sản của Ngô Mạnh T3, Cơ quan cảnh sát điều trả lại cho T3 là đúng quy định của pháp luật.
Đối tượng Ngô Mạnh T3 không biết Nguyễn Đức D và Trần Phát H1 mua ma túy về sử dụng, không đóng góp khoản tiền gì cho D và H1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 7n1t
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D năm tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 1n2t
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm2017), buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải chấp hành hình phạt chung của hai tội trên 8n3t là năm tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23-11-2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Trần Phát H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Trần Phát H1 7n tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23-11-2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Đăng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Đăng N 2n6t tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05-03-2024.
2. Biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong hai phong bì số 1677/KL KTHS ngày 24/11/2023 và phong bì số 1676 ngày 24/11/2023.
Tịch thu, tiêu hủy một bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng, hết ga; một chai nhựa màu trắng cao khoảng 17cm, đường kính khoảng 06 cm, có nắp màu đen; 01 đoạn ống hút nhựa máu tím tất cả đều không có giá trị sử dụng.
Tịch thu, sung quỹ nhà nước một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đã cũ, một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen đã cũ, một chiếc điện thoại di động màu trắng đen đã cũ mặt sau có chữ Oppo.
Trả lại cho bị cáo Trần Phát H1 một căn cước công dân mang tên Trần Phát H1; trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức D một căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức D.
(chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-5-2024).
3. Án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Mỗi bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Phát H1 và Huỳnh Đăng N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo Nguyễn Đức D, Trần Phát H1 và Huỳnh Đăng N được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tống Thị Kim Phượng |
Bản án số 117/2024/HSST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự (tội phạm về ma túy)
- Số bản án: 117/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tội phạm về ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội tàng trữ ma túy
