|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày: 19-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thị Amina;
- Ông Bùi Đắc Nghĩa.
Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Kiên Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thanh P, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành P1 và bà Huỳnh Thị N; có vợ là Trương Thị B (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024 đến nay (có mặt).
- Lê Hoàng V, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng T và bà Nguyễn Thị T1 (chết); vợ, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến nay (có mặt).
- Đặng Thanh B1, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S và bà Nguyễn Cà K; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy và bán ma túy cho người khác để kiếm lời. Vào khoản 19 giờ ngày 27/01/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 70G1-868.70 đến khu vực giáp biên giới Việt Nam-Campuchia gần ngã ba T thuộc xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để mua ma túy. Đến khoảng 02 giờ ngày 28/01/2024, P gặp người đàn ông Campuchia (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 bịch ma túy với số tiền 3.000.000 đồng, sau đó mang về chia nhỏ ra bán lại cho nhiều người sử dụng.
Vào khoảng 21 giờ ngày 30/01/2024, B1 liên lạc với P hỏi mua ma túy thì P đồng ý bán và hẹn gặp tại phòng trọ của P thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để bán ma túy. Khi đến nơi, B1 gặp P và hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng nhưng P chưa giao ma túy cho B1 mà cả hai ngồi nói chuyện với nhau tại phòng trọ của P. Cùng lúc này, V điện thoại cho P để hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì P đồng ý bán và hẹn đến phòng trọ của P để giao ma túy. V một mình chạy xe mô tô đến phòng trọ của P thì thấy P và B1 đang ngồi nói chuyện với nhau ở trong phòng nên V ngồi trước phòng trọ của P để chờ mua ma túy. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã T tiến hành kiểm tra phát hiện 01 nỏ thuỷ tinh, 19 đoạn ống hút nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy cất giấu trong phòng trọ của P nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ một số vật chứng liên quan.
Qua điều tra xác định được, ngoài lần phạm tội quả tang, P đã 04 lần bán ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với V, B1 như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 09/01/2024, V và B1 đến phòng trọ của P mỗi người mua của P 01 đoạn ống hút chứa ma túy với số tiền 300.000 đồng. Sau đó, P mang dụng cụ sử dụng ma túy của mình ra cho V, B1 bỏ ma túy vừa mua của P vào rồi cùng nhau sử dụng. Do P cùng sử dụng ma túy chung với V, B1 nên sau khi sử dụng xong P chỉ lấy của V, B1 mỗi người 150.000 đồng.
Lần thứ hai và thứ ba: vào các ngày 13 và 20/01/2024, cũng như lần thứ nhất, V và B1 đến phòng trọ của P mỗi người mua của P 300.000 đồng ma túy. Sau khi V, B1 mua ma túy thì P mang dụng cụ sử dụng ma túy của mình ra và đổ ma túy của V, B1 vừa mua vào rồi cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy thì P chỉ lấy của V, B1 mỗi người 150.000 đồng.
Lần thứ tư: Vào khoàng 18 giờ 30 phút ngày 23/01/2024, V điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của P mua ma túy của P với số tiền 300.000 đồng. P hỏi “lấy ma túy đem về hay ở đây chơi”, V trả lời “ở đây anh em mình chơi chung” thì P gọi điện rủ B1 đến cùng nhau sử dụng ma túy chung. Lúc này, P dùng kéo cắt 01 đoạn ống hút có chứa ma túy rồi đổ vào bộ dụng cụ sử dụng rồi cùng V sử dụng. Khoàng 30 phút sau, B1 điều khiển xe mô tô đến thấy P, V đang sử dụng ma túy, B1 đi vào sử dụng chung. Sau khi sử dụng hết ma túy trong nỏ thủy tinh, B1 mua ma túy của P với số tiền 300.000 đồng, P nói “cái đầu tôi với Vũ chịu tiền rồi, cái thứ hai tôi với B1 mỗi người chịu một nửa” và B1 đồng ý. P dùng kéo cắt 01 đoạn ống hút có chứa ma túy đổ vào dụng cụ sử dụng rồi cả ba thay phiên nhau sử dụng hết. Sau khi sử dụng ma túy xong, B1 trả cho P 200.000 đồng tiền mua ma túy, V xin thiếu 150.000 đồng tiền mua ma túy thì được P đồng ý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Thanh P, Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên; đồng thời khai nhận các lần phạm tội trước đó chưa bị phát hiện.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 30/01/2024 đối với Nguyễn Thanh P, Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:
- + Mẫu chất rắn màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 19 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 2,1176 gam.
- + Mẫu chất rắn màu nâu (kí hiệu M2) bên trong 01 cái nỏ thủy tinh gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0038 gam.
Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKSTC ngày 10/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh P về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 và các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; các bị cáo Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
- - Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 08 năm tù đến 09 năm tù.
- - Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
- - Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
- - Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 mỗi bị cáo từ 07 năm tù đến 08 năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ sử dụng ma túy. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước xe mô tô và 03 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo. Trả lại cho bị cáo P điện thoại di động hiệu Oppo màu đen. Buộc bị cáo P nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.100.000 đồng.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều đã biết sai và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh P, Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định: Từ ngày 09/01/2024 đến ngày 30/01/2024, tại phòng trọ của P thuê của ông Hoàng Văn Đ thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, P đã 05 lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho V và B1 thu lợi được 1.100.000 đồng, mỗi lần P đều bán ma túy cho cùng lúc 02 người. Ngoài ra, P còn cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm; V, B1 cung cấp ma túy cùng nhau 04 lần tổ chức cho cả 03 bị cáo cùng sử dụng trái phép với nhau thì bị phát hiện. Chất ma túy thu giữ của P dùng để bán cho người khác là Methamphetamine có khối lượng 2,1176 gam. Chất ma túy thu giữ của P, V, B1 dùng để tổ chức sử dụng trái phép là Methamphetamine có khối lượng 0,0038 gam; kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 30/01/2024 đối với P, V, B1 đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh P phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 và các điểm a, b khoản 2 Điều Điều 255 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng; hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm suy đồi, băng hoại một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển giống nòi dân tộc. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề hết sức phức tạp, nhức nhối của xã hội, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức của Nhà nước để giải quyết những hậu quả của tệ nạn này. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân và để thu lợi bất chính mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: Các bị cáo chỉ phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ, trong đó: Bị cáo P phạm 02 tội, mua ma túy về bán lại, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và nơi sử dụng cho các bị cáo V, B1 sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Các bị cáo V, B1 phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội tương đương nhau nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương nhau và thấp hơn bị cáo P.
[5] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[5.1] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều tự thú về hành vi phạm tội trước đó; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có.
[6] Xét thấy, với hành vi phạm tội như trên của các bị cáo cần xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có tài sản.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- [8.1] Đối với số ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
- [8.2] Đối với điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh thu giữ của bị cáo P không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- [8.3] Đối với 03 điện thoại di động còn lại thu giữ của các bị cáo đều là công cụ phạm tội, cần tịch thu vào Ngân sách nhà nước.
- [8.4] Đối với xe mô tô thu giữ của bị cáo P là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- [8.5] Cần truy thu số tiền 1.100.000 đồng là số tiền bị cáo P thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào Ngân sách Nhà nước.
[9] Đối với người đàn ông người Campuchia có hành vi bán ma tuý cho Nguyễn Thanh P, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm việc xác định được sẽ xử lý sau.
[10] Đối với ông Hoàng Văn Đ là chủ nhà trọ cho P thuê phòng, do không biết P bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng nên không xử lý hình sự ông Đ mà chuyển xử lý hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 31/01/2024. - Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/8/2024.
- Căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thanh B1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/8/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- 4.1. Tịch thu tiêu hủy đối với:
- - 01 bì thư được niêm phong ghi số 260/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T2, Trợ lý Giám định viên Tạ Minh P2 và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) là Methamphetamine có khối lượng 1,9895 gam.
- - 01 bì thư được niêm phong ghi số 260/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T2, Trợ lý Giám định viên Tạ Minh P2 và dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, bên trong có 01 cái nỏ thủy tinh không chứa gì.
- - 01 cái kéo bằng kim loại; 01 quẹt gaz; 03 đoạn ống hút nhựa.
- 4.2. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Samsung, số Imei 1: 004947/01 và xe mô tô biển số 70G1-868.70, số khung: Không xác định, số máy: VLF1P50FMH-170015113 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh P; 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 1: 516482 thu giữ của bị cáo Đặng Thanh B1; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei 1: 272176 thu giữ của bị cáo Lê Hoàng V.
- 4.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh P 01 điện thoại Oppo, số Imei 1: 648411 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- 4.4. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải nộp lại số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- 4.1. Tịch thu tiêu hủy đối với:
- (Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Lê Hoàng V, Đặng Thanh B1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh P cùng đồng phạm mua bán trái phép chất ma túy
