TAND HUYỆN PHONG THỎ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Minh Quý
2. Ông Xè A Gia
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 06/9/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tẩn Láo L; giới tính: Nam; sinh năm 1977; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản V, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Tẩn Phủ C, sinh năm 1951 và con bà Tẩn San M, sinh năm 1955; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Phàn Ú M1, sinh năm 1976; Con có 03 con: con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 23/5/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ công an huyện P, tỉnh Lai Châu tiếp tục tạm giam cho đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Phàn Sân S; giới tính: Nam; sinh năm 1968; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản V, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Phàn Quẩy L1, đã chết và con bà Phàn Tả M2, sinh năm 1946; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Chẻo S, sinh năm 1970; Con có 03 con: con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bị tạm giữ từ ngày 14/5/2024 đến ngày 23/5/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu cho đến nay. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phàn Láo L2 sinh năm 1996; địa chỉ: bản V, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 14/5/2024, Tẩn Láo Lở đi bộ sang nhà Phàn Sân S1, sinh ngày 20/7/1968 ở cùng bản. Lở nhờ S1 điều khiển xe mô tô chở đi lên xã S, huyện P để mua Heroine sử dụng. S1 bảo không có tiền đổ xăng, L2 nói cho 100.000 đồng đổ xăng, S1 đồng ý. Sau đó, S1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 25B1-140.87 (là xe của Phàn Láo L2 con trai S1) chở L2 đi. Khi đến bản S, xã S, L2 bảo S1 dừng xe đứng đợi còn Lở một mình đi vào nhà Sùng A P, sinh năm 1978 hỏi mua Heroine. Tại nhà P, L2 mua của P 03 gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu hồng, gói chung bên ngoài bằng một mảnh nilon màu hồng) giá 900.000 đồng. Lở cất giấu 03 gói Heroine trong túi quần đằng sau bên trái đang mặc rồi quay lại gặp S1. Sèo hỏi mua được H1 chưa, Lở trả lời mua được rồi. Lúc này, L2 lấy 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đưa cho S1. S1 cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô chở L2 đi về. Hồi 14 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, khi Phàn Sân S1 chở Tẩn Láo L đi đến bản Van Hồ 2, xã N, huyện P thì bị Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang, vật chứng thu giữ của L và S1 là: 03 gói Heroine (do L tự giao nộp), 02 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (do S1 giao nộp) và 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-140.87 kèm đăng ký xe.
Tại bản Kết luận giám định số 30/KLGĐ ngày 14/5/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: tổng khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Tẩn Láo L và Phàn Sân Sèo là: 1,03 gam. Tại bản Kết luận giám định số 572/KLGĐ ngày 17/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 03 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Đối với số tiền thu giữ của Phàn Sân Sèo, Cơ quan điều tra đã gửi giám định, tại bản Kết luận giám định số 616/KLGĐ ngày 30/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 100.000VNĐ gửi đến giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 29/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo Tẩn Láo L và Phàn Sân S1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 67/KLĐT ngày 10/8/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Phàn S2 Sèo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và đề nghị xử phạt Phàn Sân Sèo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù đều về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và đề nghị áp dụng án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa đồng quan điểm về tội danh và các điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tẩn Láo L và cho bị cáo Phàn S3 Sèo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đề nghị Hội đồng xét xử trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-140.87 kèm đăng ký xe cho anh vì việc bố anh là bị cáo Phàn Sân S1 sử dụng xe của anh đi mua ma túy anh không biết.
Tại lời nói sau cùng các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: hồi 14 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, tại bản Van Hồ 2, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Tẩn Láo L và Phàn Sân S1 đã cùng nhau thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 03 gói Heroine có tổng khối lượng 1,03 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo L nghiện ma túy, bị cáo S1 muốn có tiền tiêu sài nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo Tẩn Láo L phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo Phàn Sân S1 không sử dụng ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Phàn Sân S1 được tặng nhiều giấy khen khi thực hiện nhiệm vụ là công an viên và trưởng bản: Ủy ban nhân dân xã N tặng giấy khen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong phong trào bảo vệ an ninh trật tự xã năm 2003; giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc nhiệm vụ năm 2004; giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào bảo vệ an ninh biên giới năm 2005; giấy khen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2010; giấy khen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2012; giấy khen đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác PCCC, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2015 và được Ban chỉ đạo phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; giấy khen cho gia đình bị cáo vì đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” và “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc” giai đoạn 2020 -2022; Ban Chấp hành Đảng ủy xã N tặng giấy khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc năm 2013; Hội đồng nhân dân xã N tặng giấy khen vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2014. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Phàn Sân S1.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
[4] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Tẩn Láo L là người nghiện chất ma túy, nhờ P1 Sân S1 chở đi mua ma túy để sử dụng; S1 là người giúp sức, hưởng số tiền công 100.000 đồng. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm theo Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và đặc biệt là nhân thân của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tẩn Láo L Hội đồng xét xử sẽ xem xét; đề nghị xem xét cho bị cáo Phàn S3 Sèo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt Hội đồng xét xử thấy không phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên không chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng các bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 1,03 gam Heroine thu giữ của bị cáo Tẩn Láo L và Phàn Sân S1, Cơ quan điều tra đã trích 0,31 gam gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,72 gam Heroine; 04 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong đã mở là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 xe mô tô biển kiểm soát 25B1-140.87 kèm đăng ký xe là xe của anh Phàn Láo L2. Xét thấy, việc bị cáo Phàn Sân S1 dùng xe chở Tẩn L3 Lở đi mua ma túy thì anh Phàn Láo L2 không biết nên cần trả lại cho anh Phàn Láo L2 theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo Phàn S3 Sèo là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, Tẩn Láo L khai mua của Sùng A P. Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa P và L nhưng P không thừa nhận việc bán H1 cho L. Ngoài lời khai của L, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do vậy không đủ căn cứ kết luận và xử lý trong vụ án.
Đối với Phàn Láo L2 là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-140.87. Quá trình điều tra xác định Phàn Láo L2 không biết việc S1 sử dụng chiếc xe mô tô chở Tẩn L3 Lở đi mua ma túy sử dụng. Do vậy, không xử lý đối với Phàn Láo L2.
[9] Về án phí: Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo Tẩn Láo L thuộc hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tẩn Láo L, Phàn Sân S đều phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Tẩn Láo L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2024.
- Xử phạt bị cáo Phàn S3 Sèo 18 (Mười tám) tháng tù, trừ 09 ngày tạm giữ, còn lại 17 (Mười bảy) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt vào trại chấp hành hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
- Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 0,72 gam Heroine được gói được bằng mảnh giấy trắng không đóng kẻ gói gấp lại; 04 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì niêm phong ban đầu đã mở.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) do bị cáo Phàn Sân S1 phạm tội mà có.
- Trả lại 01 xe mô tô HONDA WAVE SX màu đen đỏ, biển kiểm soát 25B1-140.87, số máy 1161249, số khung 034744, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 013025 mang tên Phàn Sân Lin cho anh Phàn Láo L2, sinh năm 1996; địa chỉ: bản V, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu.
- (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 05/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ)
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Phong Thổ; - Chi Cục THADS huyện Phong Thổ; - CQCS ĐT Công an huyện Phong Thổ; - CQ THAHS Công an huyện Phong Thổ; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có QLNVLQ; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Thị Tuyết Thanh |
7
8
9
10
11
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phàn Láo L và Phàn Sân S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
