|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 16-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Biên
Bà Trần Thị Trúc Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận K,
thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H tham gia phiên
toà: Bà Phạm Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số /2024/TLST- HS ngày tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số /2024/QĐXXST-HS ngày tháng năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T ; sinh ngày 29 tháng 9 năm 1981 tại thành phố Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 08/152 Chợ Hàng, phường Dư Hàng Kênh, quận L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Số 362 Chợ Hàng, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 27-3-2024 đến ngày 02-4-2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
Người chứng kiến: vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 27-3-2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn T một mình đi xe ôm đến khu vực đường tàu T, quận L, thành phố Hải Phòng gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi nilon (kích thước 1,5x02 cm), bên ngoài được bọc 01 tờ giấy bạc chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Tân cất giấu số ma túy đá trên vào bên trong quần lót, rồi thuê xe ôm của ông Phạm Quang S chở đến vực Chung cư Bắc Sơn, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, thì bị tổ công tác Công an phường B phát hiện, bắt giữ quả tang và thu giữ số ma túy nêu trên. Ngoài ra, còn thu giữ của Tân 01 điện thoại Nokia vỏ màu đen đã qua sử dụng. Tạm giữ của ông Song 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen, biển kiểm soát: 15B1-73335 đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 374/KL-KTHS(MT) ngày 31-3-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: “ Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,25 gam, loại: Methamphetamine". Xét nghiệm chất ma túy bằng test thử đối với Nguyễn Văn T, kết quả: “dương tính với chất ma túy Methamphetamine”.
Bản Cáo trạng số 124/CT-VKSKA ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận các tình tiết vụ án phù hợp Cáo trạng; thừa nhận các tài liệu trong hồ sơ vụ án là khách quan; thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Không. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao bì được niêm phong trong 01 bì thư dán kín, niêm phong; trả lại 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, hoặc người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo, hoặc người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bởi vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phòng vật chứng, sơ đồ hiện trường, phiếu xét nghiệm, biên bản mở niêm phong lấy mẫu giám định và niêm phong lại, biên bản mở niêm phòng và giao, nhận đối tượng giám định, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định: Hồi 16 giờ 55 phút ngày 27-3-2024, tại khu vực Chung cư Bắc Sơn, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn T thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,25 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị phát hiện bắt quả tang; nhưng không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Bởi vậy, đủ căn cứ kết luận Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bởi vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm tình tiết theo khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Trên cơ sở xem xét khối lượng ma túy, đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù theo mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, bảo đảm trừng trị người phạm tội, giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng của vụ án là vật Nhà nước cấm lưu hành gồm: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định trong 01 phong bì thư niêm phong. Cần trả lại cho bị cái 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng do không liên quan việc phạm tội. Ghi nhận ý kiến tại phiên tòa của bị cáo cùng chị Nguyễn Thị Thúy (sinh năm 1976, cư trú: Số 10 Ngõ 103 Trại Lẻ, phường Kênh Dương, quận L, thành phố Hải Phòng, là chị gái của Nguyễn Văn T ) về việc đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng trả lại cho bị cáo bằng phương thức chị Nguyễn Thị T (đại diện cho Nguyễn Văn T ) nhận lại 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng.
[9] Đối với người bán ma túy cho bị cáo, hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt: Nguyễn Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 27 tháng 3 năm 2024.
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: Số ma túy còn lại sau giám định cùng các vỏ bao bì được niêm phong trong 01 phong bì thư dán kín niêm phong số 374MT/PC09 ngày 31-3-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T bằng phương thức chị Nguyễn Thị Thúy (đại diện cho Nguyễn Văn T ) nhận lại 01 điện thoại Nokia vỏ nhựa màu đen đã qua sử dụng (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Điều tra Công an quận K và Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố Hải Phòng).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Sinh |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN T
