|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/DS-PT Ngày: 16/5/2024 "V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu;
Các Thẩm phán: Bà Tăng Thị Thúy Nga;
Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 09 và 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 330/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 152/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 388/2023/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Tuấn A; Sinh năm 1999; Địa chỉ cư trú: Số A, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Tuấn A: Bà Ong Thị L; Sinh năm 1960: Địa chỉ cư trú: Số A, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền ngày 16/01/2024) (có mặt)
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H; Sinh năm 1948; Địa chỉ cư trú: Số C, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Ong Thị L; Sinh năm 1960: Địa chỉ cư trú: Số A, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
- Ông Trần Văn K; Sinh năm 1980; Địa chỉ cư trú: Số C, ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/10/2021 của ông Lê Tuấn A và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Ong Thị L trình bày:
Vào ngày 30/6/2020, ông Lê Tuấn A có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Phạm Trường T và bà Nguyễn Thị T1 đối với thửa đất số 411 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi nhận chuyển nhượng, hai bên đã làm thủ tục sang tên và giao đất cho ông A, tuy nhiên, do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông A để đó. Đến tháng 9/2020, ông A cải tạo ao để nuôi tôm thì phát hiện bà Nguyễn Thị H lấn chiếm toàn bộ diện tích đất này.
Phần đất này, trước đây là bà L mua của bà Nguyễn Thị H nhưng do bà L nợ tiền của ông Phạm Trường T nên bà L yêu cầu bà H chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho vợ chồng ông Phạm Trường T - bà Nguyễn Thị T1. Sau đó, vợ chồng ông Phạm Trường T - bà Nguyễn Thị T1 chuyển nhượng cho ông Lê Tuấn A nhưng bà H và con của bà H là anh Trần Văn K lấn chiếm phần đất tại thửa 411 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thì phần đất tranh chấp có vị trí tứ cận như sau:
- - Hướng Đông giáp thửa 409 có số đo 5,06m.
- - Hướng Tây giáp Lộ Đal có số đo 13,22m +5,69m.
- - Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 411 có số đo 16,96m + 69,11m + 73,51m + 6,20m.
- - Hướng Bắc giáp thửa 407 của bà Nguyễn Thị H có số đo 31,05m; giáp thửa 409 của bà H có số đo 44,42m + 4,14m + 82,42m.
Diện tích là 2.553,5m².
Nay, ông A yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn K trả cho ông Lê Tuấn A phần đất tranh chấp nêu trên.
Bà L thống nhất với kết quả đo đạc và Kết luận định giá của Hội đồng định giá thị xã V và không có yêu cầu định giá theo giá thị trường.
Đối với tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật
Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Vào khoảng năm 2002 – 2003, ban đầu bà H bán cho bà Ong Thị L 12,3 công tầm cấy (mỗi công là 1.296m²), mỗi công là 7 chỉ vàng 24K, bà L đã để cọc 3 cây vàng và bà H giao bà L tự đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày trả tiền thì bà L không trả mà nói khi nào có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới trả tiền nên bà H và bà L đi gặp ông M (cán bộ địa chính xã H) nhờ làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Sau đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L nên bà L chồng đủ số vàng mua đất.
Sau khi nhận đất của bà H, bà L đã sử dụng và bà L có đo đạc lại, số đất nhận của bà H nhiều hơn diện tích mua là 1.500m² nhưng bà L không cho bà H biết. Đến khi bà L bán cho ông Phạm Trường T thì Văn phòng đăng ký đất đai thị xã V cụ thể là ông Quản Ngọc B xuống đo đạc lại, lúc này bà H mới biết phần đất bà L nhận của bà H dư 1.500m² so với diện tích bà L trả tiền cho bà H. Do dư đất nên ông Phạm Trường T đồng ý trả thêm cho bà H 10,5 chỉ vàng 24k và bà L trả thêm tiền thuê đất đối với phần đất dư ra tương ứng với thời gian sử dụng, nên bà H trừ tiền nợ thức ăn của bà L. Số vàng ông T trả cho bà H được ông T đưa cho bà L trả nhưng bà L không trả nên bà H đã khởi kiện và đã được Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu và Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết xong, đồng thời bà H cũng đã lấy đủ tiền này.
Lúc ban đầu, bà H bán đất cho bà L, nhưng do bà L nợ tiền ông T nên giữa bà L với ông T thỏa thuận và bà H trực tiếp ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T.
Việc bán đất là bà H chỉ bán 12,3 công sau đó do bán thêm phần đất dư và đường nước nên tổng diện tích là 13,2 công chứ không phải bán theo thừa. Lý do có số 13,2 công là do đây là đất ruộng, lúc đó bán nguyên khu, sau khi bán hai bên đo đạc tính “tầm” cộng lại là 13,2 công nên bán 13,2 công chứ không có bán khu giáp lộ như hiện nay bà L trình bày. Phần giáp lộ qua mé sông chỉ bán 5m để bà L làm đường nước (đã cộng chung vào diện tích 13,2 công).
Phần đất tranh chấp hiện nay ông Lê Tuấn A đòi, bà H không có bán, chỉ bán phần phía sau đất ruộng (chỉ bán 5m làm đường nước). Phần đất tranh chấp hiện nay bà H và con là anh Trần Văn K đang quản lý sử dụng và anh K có đắp một nền nhà trên đất đó.
Nay, ông Lê Tuấn A yêu cầu bà trả lại phần đất nêu trên, bà H không đồng ý vì bà H không có bán phần đất nền nhà hiện nay đang tranh chấp.
Bà H thống nhất với kết quả đo đạc và kết luận định giá, bà H không yêu cầu định giá theo giá thị trường. Đối với tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, bà H không đồng ý, ai đi kiện thì tự chịu chi phí.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn K trình bày:
Ông Kiệt thống với lời trình bày của bà H. Đây là đất của mẹ ông nên để cho ông làm nền nhà trên đất này, trước đây có nhà lá của ông nhưng hiện nay đã sập chỉ còn nền đất cao hơn các khoảng đất xung quanh đó, ông K không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông A.
Vụ án được Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại Bản án sơ thẩm số 152/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 đã quyết định:
Căn cứ: Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tuấn A với bà Nguyễn Thị H về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc bà Nguyễn Thị H và con bà H là ông Trần Văn K phải trả cho ông Lê Tuấn A phần đất tranh chấp tại thửa 411 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 327723 ngày 30/6/2020 theo hồ sơ số 000263. CN.001 chuyển nhượng cho ông Lê Tuấn A; có vị trí, tứ cận như sau:
- - Hướng Đông giáp thửa 409 có số đo 5,06m.
- - Hướng Tây giáp Lộ Đal có số đo 13,22m +5,69m.
- - Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 411 có số đo 16,96m + 69,11m + 73,51m + 6,20m.
- - Hướng Bắc giáp thửa 407 của bà Nguyễn Thị H có số đo 31,05m; giáp thửa 409 của bà H có số đo 44,42m + 4,14m + 82,42m.
Diện tích là 2.553,5m².
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 11/10/2023, bà Nguyễn Thị H là bị đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.
Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn. Giữ nguyên án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét đơn kháng cáo đề ngày 11/10/2023 do bà Nguyễn Thị H là bị đơn nộp qua dịch vụ bưu chính ngày 11/10/2023 đến Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng ngày 11/10/2023 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định các Điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Lê Tuấn A là nguyên đơn vắng mặt, tuy nhiên ông A ủy quyền cho L. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Tuấn A.
- [3] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy: Về nguồn gốc sử dụng đất: Nguyên đơn ông Lê Tuấn A cho rằng đây là đất của ông A mua của vợ chồng ông Phạm Trường T và bà Nguyễn Thị T1 và đã được UBND thị xã V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông A, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T - bà T1 với ông A là đúng trình tự theo quy định pháp luật. Bị đơn bà H cho rằng phần diện tích đất tranh chấp là của bà H và bà H không có bán cho ai. Tuy nhiên, căn cứ vào Hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và vợ chồng ông T - bà T1 thì phần đất này bà H đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông T - bà T1, bà H thừa nhận toàn bộ quá trình chuyển nhượng đất từ bà sang cho vợ chồng ông T - bà T1 là chính bà H đi làm thủ tục sang tên. Đồng thời, tại các bản án dân sự sơ thẩm số 30/2013/DS-ST ngày 22/10/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu và bản án dân sự phúc thẩm số 41/2014/DS-PT ngày 11/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng do bà H cung cấp cho Tòa án, thì bà H đều thể hiện việc bà H có bán cho ông T thửa 411.
- [4] Về trình tự thủ tục cấp giấy: Tại công văn số 596/CNVC ngày 29/8/2022 của Chi nhánh văn phòng đăn ký đất đai thị xã V và tại công văn số 2527/UBND-NC ngày 26/9/2022 của Ủy ban nhân dân thị xã V, khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 411 cho ông Lê Tuấn A là đúng trình tự, thủ tục.
- [5] Về quá trình sử dụng đất, và hiện trạng sử dụng đất: Phần đất tranh chấp thửa 411 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng có nguồn gốc ban đầu là của bà H sau đó chuyển nhượng cho vợ chồng ông T - bà T1. Đến năm 2020, ông A nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T - bà T1 nhưng chưa có nhu cầu sử dụng. Đồng thời, khi ông Tuấn A có nhu cầu sử dụng đất, cải tạo nuôi tôm thì phát hiện phần đất tranh chấp hiện nay bà H và con bà H là ông Trần Văn K lấn chiếm, đắp nền nhà trên đất.
- [6] Từ những cơ sở phân tích nêu trên cho thấy Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Tuấn A yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn K trả lại phần đất diện tích đất tranh chấp là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H là cưa đủ căn cứ chấp nhận.
- [7] Từ những nhận định, phân tích trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận, xét toàn bộ kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H là không có căn cứ chấp nhận.
- [8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Nguyễn Thị H được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- * Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- * Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị H. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 152/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân thị xã Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng và được tuyên lại như sau:
Căn cứ: Điều 5, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Tuấn A với bà Nguyễn Thị H về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc bà Nguyễn Thị H và con bà H là ông Trần Văn K phải trả cho ông Lê Tuấn A phần đất tranh chấp tại thửa 411 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại ấp G, xã H, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; được Ủy ban nhân dân thị xã V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 327723 ngày 30/6/2020 theo hồ sơ số 000263. CN.001 chuyển nhượng cho ông Lê Tuấn A; có vị trí, tứ cận như sau:
- - Hướng Đông giáp thửa 409 có số đo 5,06m.
- - Hướng Tây giáp Lộ Đal có số đo 13,22m +5,69m.
- - Hướng Nam giáp phần còn lại của thửa 411 có số đo 16,96m + 69,11m + 73,51m + 6,20m.
- - Hướng Bắc giáp thửa 407 của bà Nguyễn Thị H có số đo 31,05m; giáp thửa 409 của bà H có số đo 44,42m + 4,14m + 82,42m.
Diện tích là 2.553,5m².
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 18.036.480đ (mười tám triệu không trăm ba mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi đồng) do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này xong, nên bị đơn Nguyễn Thị H có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn Lê Tuấn A số tiền nêu trên là 18.036.480đ (mười tám triệu không trăm ba mươi sáu nghìn bốn trăm tám mươi đồng).
-
Về án phí sơ thẩm:
- - Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng do bà H là đối tượng được miễn án phí theo quy định pháp luật nên không phải nộp án phí.
- - Ông Lê Tuấn A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 3.807.000đ (ba triệu tám trăm lẻ bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0002158 ngày 27/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
* Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị H được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.
* Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 117/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 117/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Tuân A-Nguyễn Thị H
