Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án số: 117/2024/HSST

Ngày: 16 - 4 - 2024

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vương Thị Hồng Thanh
  2. Ông Tô Văn Nhung

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- HS ngày 02/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Quang T, sinh ngày 3/4/1998 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi ĐKHKTT: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang P, sinh năm 1967 và bà Vương Thị B, sinh năm 1956; bị can có 02 anh, chị ruột (chị lớn sinh năm 1989, anh nhỏ sinh năn 1991); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/11/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu T1, sinh ngày 22/8/1989 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T2 sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T3 sinh năm 1960; bị can có 02 anh chị ruột (chị lớn sinh năm 1982, anh nhỏ sinh năm 1984); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22/11/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Quang T4, sinh năm 1991 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi ĐKHKTT: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang P, sinh năm 1967 và bà Vương Thị B, sinh năm 1956; bị can có 02 chị, em ruột (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1998); có vợ là Hoàng Thị H, sinh năm 1991; bị can có 02 con (lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Bá V, sinh năm 1992; nơi đăng ký HKTT: Thôn I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trú tại: 8 N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T5, sinh năm: 1982; nơi ĐKHKTT: Thôn F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Trần Hiếu T6, sinh năm: 1993; vắng mặt;
  • + Vũ Thị T7, sinh năm: 1963; vắng mặt;
  • + Đinh Mạnh H1, sinh năm: 1980; vắng mặt;
  • + Phạm Quốc V1, sinh năm: 1970; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Quang T, Nguyễn Quang T4, Nguyễn Hữu T1 và anh Nguyễn Bá V là bạn với nhau. Khoảng tháng 8/2023 T làm thuê cho anh V, trong quá trình làm T nhiều lần mượn tiền của anh V với tổng số tiền là 3.000.000₫ (ba triệu đồng). Đến tháng 9/2023, T nghỉ việc nhưng chưa trả tiền cho anh V.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, Nguyễn Quang T ngồi nhậu cùng Nguyễn Quang T4 và Nguyễn Hữu T1 tại hẻm B N thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T gọi điện thoại cho anh Nguyễn Bá V hẹn đến để nhậu và trả tiền. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, anh Trần Hiếu T6 điều khiển xe mô tô chở anh V đến dừng cách chỗ T ngồi nhậu khoảng 01m. Anh V xuống xe đi vào nói chuyện với T, anh V hỏi: “tiền nong sao rồi em, có chưa?", T trả lời: “khi nào có thì trả”. Nghe vậy, anh V bực tức dùng tay tát một cái vào mặt T, T cầm ly thủy tinh loại có quai dùng uống bia ở trên bàn đuổi đánh anh V, anh V bỏ chạy khoảng 10m thì bị T đuổi kịp, anh V dùng tay tát tiếp T một cái nữa vào mặt làm T té ngã xuống đường bể ly thủy tinh, anh V tiếp tục bỏ chạy. Thấy T bị đánh nên T1 cùng T4 chạy theo anh V để đánh bênh vực cho T. Chạy được khoảng 20m thì T1 đuổi kịp anh V, T1 dùng tay trái vòng qua vai ôm giữ anh V. Cùng lúc T từ phía sau đuổi đến dùng ly thủy tinh bị bể đập 01 cái hướng vào đầu anh V, anh V dùng tay đỡ được. T1 thả anh V ra, T4 cầm 01 cục gạch chạy đến giơ lên đánh anh V, anh V dùng tay ôm đầu nên T4 cầm gạch đập trúng tay phải anh V gây thương tích, đồng thời T tiếp tục cầm ly thủy tinh bị bể đánh anh V, anh V giằng co ly thủy tinh với T làm trúng vào đầu và tay của anh V. Lúc này, thấy anh V bị chảy máu nên T1 vào can ngăn anh V với T ra, anh V vùng bỏ chạy thoát. Đến ngày 09/10/2023 anh Nguyễn Bá V đã đến Công an phường A, thành phố D trình báo, đồng thời làm đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu xử lý hình sự đối với T1, T, T4. Ngày 22/11/2023, T1 và T đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đầu thú. Ngày 02/12/2023, cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Lệnh bắt, tạm giam đối với T4.

Tại Kết luận giám định số 639/2023/ KLGĐ-TTPY ngày 13/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của anh Nguyễn Bá V, như sau:

1. Các kết quả chính:

  • - Vết thương đỉnh đầu 5,5 x 0,1cm, sẹo lành. Tụ máu liềm sau não, lều tiểu não 2 bên đã điều trị nội khoa.
  • - Vết thương phức tạp cánh tay trái 6 x 0,4cm; 6 x 0,5cm; 4 x 0,1cm; 2 x 0,2cm sẹo lành.
  • - Vết thương đứt ngón IV tay phải 3 x 0,3cm; ngón V tay phải 4,5 x 0,2cm đã phẫu thuật nối gân, sẹo lành.

2. Kết luận:

2.1 Căn cứ Thông tư số 22/2019/TB-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Bá V tại thời điểm giám định là 14 %.

2.2 Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích:

  • - Vết thương đỉnh đầu: Sẹo bờ hơi nham nhở, khả năng do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
  • - Vết thương phức tạp cánh tay trái: Sẹo bờ tương đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra.
  • - Vết thương đứt ngón IV, V bàn tay phải: Sẹo bờ không sắc gọn, khả năng do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.

Tại Công văn số 28/CV-TTPY ngày 01/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B căn cứ trên hồ sơ cho phép nhận định: Trường hợp thương tích của bị hại Nguyễn Bá V nếu không cấp cứu kịp thời, khả năng cũng không gây nguy hiểm đến tính mạng.

Vật chứng thu giữ: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị T5 là chị gái của Nguyễn Hữu T1 đã bồi thường cho anh Nguyễn Bá V số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Đối với Nguyễn Quang T và Nguyễn Quang T4, anh V yêu cầu bồi thường tổng cộng số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng), gồm: chi phí điều trị thương tích và chi phí ăn uống, đi lại, chi phí tổn thất tinh thần, ngày công không lao động được. Hiện T và T4 chưa bồi thường số tiền này.

Theo bản Cáo trạng số 110/CT- VKS- DA ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Quang T4 và Nguyễn Hữu T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T4 mức hình phạt từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T1 mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm đến 04 năm 06 tháng. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo T và bị cáo T4 phải bồi thường cho bị hại 50.000.000đ.

Bị hại đã nhận 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) tiền bồi thường của bị cáo Nguyễn Hữu T1 và không có yêu cầu gì thêm; đồng thời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Hữu T1.

Bị hại yêu cầu các bị cáo Nguyễn Quang T và Nguyễn Quang T4 bồi thường số tiền 50.000.000đ. tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quang T và Nguyễn Quang T4 đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ.

Các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Quang T4 và Nguyễn Hữu T1 không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố D, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Quang T4 và Nguyễn Hữu T1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/10/2023, tại quán nhậu hẻm B N thuộc khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do Nguyễn Quang T còn nợ tiền của anh Nguyễn Bá V chưa trả nên giữa anh V và T lời qua tiếng lại. Anh V dùng tay tát vào mặt T, T đuổi đánh, anh V rồi bỏ chạy, thấy vậy Nguyễn Hữu T1 đuổi theo anh V và ôm giữ lại. Tưởng cầm cục gạch chạy đến giơ lên đánh anh V, anh V dùng tay ôm đầu nên T4 đập trúng tay anh V, đồng thời T cầm ly thủy tinh bị bể đánh anh V, anh V giằng co ly thủy tinh với T làm trúng vào đầu và tay của anh V. Lúc này, thấy anh V bị chảy máu nên T1 vào can ngăn anh V với T ra. Theo kết luận giám định tỷ lệ thương tích của anh V là 14%.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi:

Hành vi giữ bị hại của bị cáo T1 và dùng ly thủy tinh, cục gạch đánh vào đầu, tay bị hại của bị cáo T, T4 gây thương tích với tỷ lệ 14% đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tuy nhiên, cũng cần xem xét nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn cũng một phần do bị hại đã dùng tay tát 02 cái vào mặt bị cáo T trước. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn, bị cáo T và bị cáo T4 là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại, bị cáo T1 là người giúp sức. Do đó, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt cho phù hợp. Xét thấy, trong vụ án bị cáo T1 là người giúp sức (giữ bị hại), tuy nhiên khi thấy bị cáo T đánh bị hại thì bị cáo T1 đã can ngăn, đồng thời bị cáo T1 đã bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) điều trị thương tích. Bị cáo T1 có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét không cần thiết bắt phải chấp hành hình phạt tù. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án tù cho hưởng án treo, đồng thời giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý giáo dục cũng có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Bị cáo T1 và T đầu thú; bị cáo T1 đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo T1 đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) chi phí điều trị thương tích, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm dân sự đối với bị cáo T1.

Đối với bị cáo T và Tưởng bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng). Tại phiên tòa các bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về án phí: Các bị cáo T, T4 và T1 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo T và T4 còn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền chưa bồi thường cho bị hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 48; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự đối với bị cáo T và T4.
  • - Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đối với bị cáo T1.
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Quang T4 và Nguyễn Hữu T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T4 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T1 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hữu T1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo T1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật Thi Hành án Hình sự.

Áp dụng Khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên bố trả tự cho cho bị cáo Nguyễn Hữu T1 ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo T1 không bị tạm giữ, tạm giam về một tội phạm nào khác.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Quang T và Nguyễn Quang T4 phải bồi thường cho bị hại 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

3. Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Quang T, Nguyễn Quang T4 và Nguyễn Hữu T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T và T4 phải chịu 2.500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Công an TP.Dĩ An;
  • - VKSND TP.Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP.Dĩ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 117/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1 bị cáo án treo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger