|
TAND HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 15-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vừ Thị Hoa
Ông Sùng A Sa
- Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 112/2024/TLST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Quàng Văn B; Sinh ngày 01/01/1993 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn S, sinh năm 1959 và bà Quàng Thị L, sinh năm 1962; Bị cáo có vợ là thứ nhất là Lò Thị T, sinh năm 1996 (đã chết), vợ thứ hai là Lò Thị P, sinh năm 1995, bị cáo chưa có con; Tiền sự: Không;
Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, cụ thể: Ngày 20/9/2019, Quàng Văn B bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử, áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo bản án số 37/HSST. Bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt tiền, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 19/11/2018, Quàng Văn B bị Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định ngày 19/11/2018 hiện đã được xoá tiền sự.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/4/2024, tạm giam từ ngày 12/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).
-
Họ và tên: Lò Văn D; Sinh ngày 10/3/1975 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản Mè, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khơ Mú; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn Đ (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Lò Thị Ó (không xác định được năm sinh, đã chết); Bị cáo có vợ là Lò Thị P, sinh năm 1987 và có 03 con. Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 03/4/2024, tạm giam từ ngày 12/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 03/4/2024, Quàng Văn B điều khiển xe mô tô từ nhà tại bản M, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu đến thăm Lò Văn D đang điều trị bệnh viêm phổi tại Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Lai Châu. Thấy Quàng Văn B đến thăm, Lò Văn D đã rủ Quàng Văn B đi tìm mua Heroine để cùng nhau sử dụng, Quàng Văn B đồng ý. Lò Văn D điều khiển xe mô tô của Quàng Văn B chở B lên bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine cùng nhau sử dụng. Tại bản Noong Thăng, xã P, Lò Văn D đưa cho Quàng Văn B số tiền 30.000 đồng (gồm 01 tờ có mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ có mệnh giá 10.000 đồng) để góp mua Heroine cùng B. Quàng Văn B cầm tiền Lò Văn D đưa, cất vào trong túi quần đang mặc trên người rồi bảo Lò Văn D ngồi gần bụi tre bên đường đợi. Quàng Văn B một mình đi bộ vào trong bản N, xã P được khoảng 10 mét thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, Quàng Văn B mua được của người đàn ông đó 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu xanh) với giá 200.000 đồng. Mua được H, Quàng Văn B quay về nơi Lò Văn D đang đợi và đưa gói Heroine cho D xem rồi nói với D mua gói Heroine đó với giá 200.000 đồng. Quàng Văn B cấu lấy một ít Heroine đưa cho Lò Văn D sử dụng bằng hình thức hít, Quàng Văn B cũng cấu lấy một ít Heroine sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, Quàng Văn B chia thành 03 gói nhỏ, mục đích để mang về cùng với Lò Văn D sử dụng. Sau đó, Quàng Văn B và Lò Văn D ra xe mô tô, Quàng Văn B cất giấu gói Heroine bên trong cuộn dây cao su cuốn phía sau giá xe mô tô (khi Quàng Văn B chia và cất giấu Heroine, Lò Văn D đứng bên cạnh nhìn thấy). Quàng Văn B điều khiển xe mô tô chở Lò Văn D quay về Trung tâm y tế huyện T, khi cả hai đến địa phận khu A thị trấn T, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý vào hồi 14 giờ 10 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ bên trong cuộn dây cao su cuốn phía sau giá chở hàng xe mô tô của Quàng Văn B là 03 gói Heroine (đều được gói bằng mảnh nilon màu xanh). Tạm giữ của Quàng Văn B 01 xe mô tô, nhãn hiệu SUFAT, biển kiểm soát 25F4-2488; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn T1 và số tiền 30.000 đồng (gồm 01 tờ có mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ có mệnh giá 10.000 đồng).
Tại bản Kết luận giám định số 21/KLGĐ, ngày 03/4/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 398/KL-KTHS ngày 07/4/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Quàng Văn B, Lò Văn D có tổng khối lượng 0,63 gam: là ma túy, loại: Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma tuý và tiền chất.
Bản kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 30.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,63 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại gồm 04 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phòng ban đầu, 01 xe mô tô, nhãn hiệu SUFAT, biển kiểm soát 25F4 – 2488, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn T1, số tiền 30.000 đồng hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố các bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Quàng Văn B, xử phạt bị cáo Quàng Văn B 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lò Văn D, xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn D, buộc bị cáo Quàng Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 04 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu SUFAT, biển kiểm soát 25F4 – 2488 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn T1. Trả lại cho bị cáo Quàng Văn B số tiền 30.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 07 giờ ngày 03/4/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Quàng Văn B, Lò Văn D cùng nhau góp được tổng số tiền 200.000 đồng (Biện góp 170.000 đồng, D góp 30.000 đồng) mua 01 gói Heroine của một người đàn ông không rõ lai lịch, mục đích để cùng nhau sử dụng. Mua được H, Quàng Văn B và Lò Văn D cấu lấy một ít cùng nhau sử dụng, số Heroine còn lại Quàng Văn B chia thành 03 gói nhỏ mang về để cùng Lò Văn D sử dụng. Đến hồi 14 giờ 10 phút cùng ngày, tại khu A, thị trấn T, huyện T, Quàng Văn B, Lò Văn D bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ của Quàng Văn B, Lò Văn D là 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,63 gam.
Các bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, mục đích mua ma tuý về để cùng nhau sử dụng. Hành vi cố ý cùng tàng trữ 0,63 gam Heroine để sử dụng của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Xét về vai trò đồng phạm, đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, do nghiện ma tuý các bị cáo cùng nhau góp tiền mua Heroine để sử dụng. Bị cáo Lò Văn D là người khởi xướng, bị cáo Quàng Văn B là người trực tiếp dùng phương tiện là xe mô tô của mình đi mua ma tuý, trực tiếp mua, chia nhỏ và cất giấu Heroine nên B giữ vai trò là người thực hành tích cực. Cả hai bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng là 0,63 gam Heroine.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D đều là những người nghiện ma tuý. Bị cáo Lò Văn D chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo Lò Văn B1 có 01 tiền án do chưa chấp hành hình phạt tiền là hình phạt chính của bản án. Các bị cáo đã không làm tròn trách nhiệm của mình với gia đình, xã hội, chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân, làm ăn, lao động sản xuất mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy. Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục của địa phương các bị cáo biết rõ các hành vi liên quan đến ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để có ma túy sử dụng cho nhu cầu không chính đáng của bản thân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Lò Văn D có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên Lò Văn D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Quàng Văn B chưa chấp hành hình phạt chính là hình phạt tiền của bản án số 37/HSST ngày 20/9/2019 về tội “Đánh bạc”, chưa được xoá án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là: “Tái phạm”.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, gia đình bị cáo Lò Văn D thuộc diện hộ cận nghèo, các bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, lao động tự do thu nhập không ổn định và không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,63 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không phải xử lý, còn lại 04 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phòng ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu SUFAT, biển kiểm soát 25F4 – 2488, quá trình điều tra xác định xe mô tô thuộc sở hữu của bị cáo Quàng Văn B (do B mua lại của anh Lò Văn T1 với giá 4.000.000 đồng), các bị cáo đã sử dụng xe mô tô đi mua và cất giấu Heroine bên trong cuộn dây cao su cuốn phía sau giá chở hàng xe mô tô do đó xe mô tô được xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu xe cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Lò Văn T1 để sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền 30.000 đồng thu của bị cáo Quàng Văn B, các bị cáo khai là tiền của Lò Văn D góp với B để mua Heroine. Tuy nhiên, khi mua H, Quàng Văn B đã bỏ ra số tiền 200.000 đồng trong đó đã gồm 30.000 đồng Lò Văn D góp. Do vậy, cần trả lại 30.000 đồng cho bị cáo Quàng Văn B do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Việc xử lý vật chứng trên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Gia đình bị cáo Lò Văn D thuộc diện hộ nghèo, tại phiên tòa các bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo Lò Văn D 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Quàng Văn B bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Những vấn đề liên quan: Về nguồn gốc Heroine, các bị cáo Quàng Văn B khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Quàng Văn B.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lò Văn D.
- Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với cả hai bị cáo.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Lò Văn D.
- Căn cứ khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Quàng Văn B.
-
Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn B, Lò Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Quàng Văn B 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01 (Một) năm 08 (T2) tháng tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 03/4/2024.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì bên trong đựng 04 mảnh ni lon màu xanh, 01 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phòng ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu SUFAT, biển kiểm soát 25F4 – 2488, số khung 170249, số máy 170249 (đã qua sử dụng) cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, số 009559, biển kiểm soát 25F4 – 2488 mang tên Lò Văn T1. Trả lại cho bị cáo Quàng Văn B số tiền 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cá Lò Văn D 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo Quàng Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn B - Lò Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
