Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 7 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn, con chung
và chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
  2. Bà Trần Thị Liên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 329/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung và chia tài sản chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST –HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L sinh năm 1993

Địa chỉ: A A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. có mặt

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thiên H sinh năm 1993

Địa chỉ: 20 tỉnh lộ 5, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thiên H đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/2016 tại UBND xã C, thành phố B trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là không có tiếng nói chung bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân. Xét thấy tình cảm không còn nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L và ông H có 1 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018. Hiện cháu còn nhỏ đang ở với mẹ nên bà L có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cháu tới tuổi trưởng thành. Bà L làm nhân viên tại Công ty TNHH T, mức thu nhập bình quân 15.000.000 đồng/tháng.

Về cấp dưỡng: Bà L đề nghị ông H cấp dưỡng nuôi cháu Đ 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình nộp đơn khởi kiện bà L có nộp đơn đề nghị tòa án giải quyết vấn đề tài sản, chia tài sản đối với thửa đất số 878, tờ bản đồ số 12, diện tích 136,7m² tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên sau đó bà L đã nộp đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về vấn đề chia tài sản. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Bị đơn ông Nguyễn Thiên H trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc L đã tự nguyện chung sống với nhau và đã đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/2016 tại UBND xã C, thành phố B trên cơ sở tự nguyện. Sau một thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là không có tiếng nói chung bất đồng quan điểm. Vợ chồng sống ly thân. Bà L làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì ông H đồng ý.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống ông H và bà L có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018. Hiện cháu còn nhỏ đang ở với mẹ, ông không có ý kiến gì. Tại phiên tòa ông H trình bày nếu ông đồng ý giao con cho mẹ chăm sóc nuôi dưỡng thì đề nghị bà L cho cháu Đ được đi học tại trường mà gia đình ông H đề nghị.

Về cấp dưỡng: Trong quá trình tham gia tố tụng ông H trình bày vì chưa thỏa thuận được việc giao con và tài sản nên ông H chưa có ý kiến về phần cấp dưỡng. Tại phiên tòa ông H không có ý kiến gì. Ông H làm công việc quản lý quán cà phê, mức thu nhập quán 12.000.000 đến 15.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa ông H không có ý kiến gì.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Nguyễn Thiên H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc L chăm sóc nuôi dưỡng đến khi đủ tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Thiên H có quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Thiên H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng / tháng cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành; Về tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đình chỉ giải quyết một phần đối với yêu cầu chia tài sản của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu giải quyết tranh chấp ly hôn và con chung với ông Nguyễn Thiên H, địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, con chung và chia tài sản chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/2016 tại UBND xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Hiện vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết: “Về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm được vì khi tiến hành thủ tục ly hôn, hai ông bà H và L không tiến hành hòa giải tại cơ sở”.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, Tòa án đã tiến hành hòa giải, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa ông H đồng ý ly hôn với bà L. Đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử xét thấy, cần ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bà L và ông H. Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H thuận tình ly hôn.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H có 01 con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018. Hiện cháu còn nhỏ đang sống với mẹ nên bà L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu đến tuổi trưởng thành.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông H không đồng ý thỏa thuận nuôi con chung và có nguyện vọng được nuôi con. Tuy nhiên tại phiên tòa ông H đồng ý giao con cho mẹ chăm sóc nuôi dưỡng nhưng có điều kiện cho con được học tập tại trường học của gia đình ông. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Đ còn nhỏ, hiện đang sống ổn định cùng với mẹ là bà L, bà L có cung cấp bảng xác nhận lương, có thu nhập ổn định nên yêu cầu của bà L về việc được nuôi cháu là phù hợp với thực tế và đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu ông Nguyễn Thiên H cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000 đồng/ tháng. Tại phiên tòa ông H không đồng ý về mức cấp dưỡng vì ông H đang còn nhiều khoản nợ phải trả. Hiện ông H làm quản lý quán cà phê, mức thu nhập quán từ 12-15.000.000 đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào quy định của pháp luật việc cấp dưỡng nuôi con là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Điều 7 Nghị quyết 01/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “..mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú..”. Ông H làm quản lý quán cà phê, mức thu nhập không ổn định, do đó Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ vào nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, thì ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Đ là 2.500.000 đồng/ tháng, kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành là phù hợp.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L có đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 878, tờ bản đồ số 12, diện tích 136,7m² tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình giải quyết vụ án bà L đã làm đơn rút một phần nội dung đơn khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung. Tại phiên tòa bà L giữ nguyên yêu cầu về rút đơn khởi kiện về chia tài sản. Việc rút đơn là tự nguyện, căn cứ Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà L về chia tài sản.

Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Thiên H không đồng ý về việc chia tài sản. Tòa án đã lập biên bản và hướng dẫn đương sự về quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản. Tuy nhiên ông H không làm đơn yêu cầu khởi kiện và không cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình. Do đó không có căn cứ xem xét đối với trình bày của ông H.

Trong trường hợp sau khi ly hôn, ông H và bà L không thỏa thuận được về vấn đề chia tài sản, có đơn yêu cầu về chia tài sản chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Nguyễn Thiên H phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.

Bà Nguyễn Thị Ngọc L được nhận lại phần án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu chia tài sản đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung:

    Giao cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

    Ông Nguyễn Thiên H được quyền thăm nom chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở.

  3. Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Thiên H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Tiến Đ sinh ngày 23/02/2018 số tiền 2.500.000 đồng/ tháng, kể từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu Đ đủ tuổi trưởng thành.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L về yêu cầu chia tài sản là thửa đất số 878, tờ bản đồ số 12, diện tích 136,7m² tại xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk mang tên ông Nguyễn Thiên H, bà Nguyễn Thị Ngọc L.

    Trường hợp sau khi ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Nguyễn Thiên H có yêu cầu về chia tài sản sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 9.050.000 đồng (Chín triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2023/0009764 ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

    Bà Nguyễn Thị Ngọc L được nhận lại 8.750.000 đồng (Tám triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2023/0009764 ngày 01/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

    Ông Nguyễn Thiên H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp. BMT;
  • - Chi Cục THADS Tp. BMT;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Cư ÊBur;
  • - Lưu hồ sơ tại tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tranh chấp ly hôn, con chung và chia tài sản chung

  • Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L xin ly hôn với ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger