|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15 - 4 - 2024 V/v Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ.
Thư ký phiên tòa: bà Đinh Thị Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên, xin vắng mặt
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 317/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1992. Có mặt.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm E, thôn Y, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: anh Trần Văn S, sinh năm 1987. Có mặt
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm E, thôn Y, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn S có đăng ký kết hôn ngày 06/11/20213 tại UBND xã H trên cơ sở tìm hiểu, tự nguyện,. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận những năm đầu, đến năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn do anh S lười làm, ham chơi, cờ bạc, nợ nần, không chăm sóc và không có trách nhiệm với vợ con, một mình chị phải lo toan chi phí sinh hoạt trong gia đình, nên vợ chồng xảy ra cãi nhau. Sau nhiều lần cho anh S nhiều cơ hội đẻ cải sủa lỗi lầm, gia đình hai bên cũng đã hòa giải nhiều lần nhưng anh S vẫn không thay đổi. Từ tháng 9/2022 chị và anh S sống ly thân một người một nơi, không ai quan tâm đến ai. Đến nay chị T xác nhận không còn tình cảm với anh S, mâu
thuẫn vợ chồng trầm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: anh, chị có 01 con chung là Trần Thảo V, sinh ngày 05/9/2014. Hiện tại cháu V đang ở với chị T. Khi vợ chồng ly hôn chị xin tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Về tài sản và nợ chung: chị T trình bày không có tài sản và nợ chung vợ chồng.
Quan điểm ý kiến của bị đơn, anh Trần Văn S trình bày: Anh nhất trí với trình bày của chị T thời điểm kết hôn cũng như việc kết hôn giữa anh chị là tự nguyện. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì vợ chồng chỉ có mẫu thuẫn nhỏ nhặt, chị T là người hay giận dỗi, rồi thôi. Đối với bản thân anh, anh S cũng thừa nhận trước đấy, thời điểm 2018-2021 anh có ham chơi cờ bạc và nợ nần, nhưng không để chị T phải có trách nhiệm, anh một mình làm ăn và đến nay đã trả nợ xong nhưng chưa thể quan tâm đến vợ con về mặt vật chất do còn góp nhặt trả nợ. Từ tháng 11/2022 anh chị sống ly thân nhau nhưng anh cũng đã tìm mọi biện pháp hàn gắn tình cảm, thường xuyên sang thăm con khi rảnh rỗi trong ngày, vì hai nhà ở gần nhau, chị T hàng ngày gặp anh vẫn vui vẻ và nói chuyện bình thường. Bản thân lúc nào cũng yêu thuwong vợ con và còn tình cảm vợ chồng với chị T, anh xác định bản thân cần phải có trách nhiệm với vợ con đẻ bù đắp những thời gian trước đây anh chưa làm được nên anh mong muốn được đoàn tụ với chị T, không đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh chị có 01 con chung như chị T trình bày ở trên, con chung đang ở với chị T. Tại phiên tòa anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Về tài sản và nợ chung: Anh S trình bày không có.
Tại phiên tòa, chị T trình bày đã cho anh nhiều cơ hội để hàn gắn tình cảm, nhưng anh S chỉ có lới nói hay thay cho hành động, anh vẫn chưa làm được những điều mà anh hứa với chị T, không công ăn việc làm ổn định và không có thu nhập, điều đó làm cho chị T mất hết tình cảm vợ chồng với anh S, chị khẳng định không thể tiếp tục chung sống và vẫn cương quyết ly hôn với anh S càng sớm càng tốt để giải phóng cho hai người.
Bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án đã làm đúng qui trình tố tụng, không có vi phạm gì, đã xác định đúng tư cách của đương sự, giải quyết đúng thời hạn của vụ án. Việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn, bị đơn: chấp hành đúng quy định tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh x cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Văn S; về con chung: 01 con chung Trần Thảo V, sinh ngày 05/9/2014. Tiếp tục giao con chung cho chị T trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; ghi nhận sự tự nguyện chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoạc cho đến khi các đương sự có yêu cầu mới về người trực tiếp nuôi còn và trợ cấp nuôi con chung; Về tài sản và nợ chung: Đương sự trình bày có nên không xem xét;
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định pháp luật;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị T1 kiện xin ly hôn anh Trần Văn S có hộ khẩu thường trú và cư trú tại: xóm F, thôn Y, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện M, thành phố Hà Nội ngày 06/11/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của chị T, anh S, tại phiên tòa: Chị T cương quyết ly hôn vì chị không thể tiếp tục, chịu đựng, chung sống với một người chồng ham chơi, không có trách nhiệm, Tòa án không giải quyết ly hôn chị thì chị cũng không về chung sống với anh S thêm ngày nào nữa. Điều đó khẳng định chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh S. Bị đơn anh S không đồng ý ky hôn và xin chị T cho anh thêm cơ hội, anh đã sửa đổi sẽ có trách nhiệm với gia đình, anh vẫn còn rất yêu chị. Xét thấy, việc anh S níu kéo hôn nhân chỉ là thể hiện tình cảm, tình yêu từ một phía anh S nên không thể mang lại hạnh phúc thật sự đúng nghĩa cho chị T. Hội đồng xét xử không thể cưỡng ép hôn nhân khi các đương sự không còn tiếng nói chung do các bên đã tự cho nhau nhiều cơ hội hàn gắn nhưng tại thời điểm xét xử các bên vẫn sống ly thân là thể hiện mâu thuẫn hai bên không thể Háo giải được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Anh, chị có 01 con chung: Trần Thảo V, sinh ngày 05/9/2014. Con chung hiện đang ở với chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. uan điểm của chị T vẫn xin được nuôi con và trình bày có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung, chị đi làm công nhân may và có thu nhập ổn định đủ để nuôi con chung và đáp ứng sinh hoạt hàng ngày, có chỗ ở ổn định và. Cháu V cũng mong muốn tiếp tục ở với chị T. Về phía anh S cũng thừa nhận không muốn con chung bị thay đổi cuộc sống hiện tại vì con chung đang sống tốt. Nên HĐXX chấp nhận yêu cầu vè con chung của chị T, sau ly hôn tiếp tục giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đén khi có thay đổi khác, ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con
chung là có cơ sở phù hợp với quy đinh Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Anh S1 có quyền tham nom chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản và nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố 4 tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Văn S.
2. Về con chung: Anh, chị có 01 con chung: Trần Thảo V, sinh ngày 04/9/2014. Buộc anh trần văn S phải giao con heung cho chị Nguyễn Thị T được tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; ghi nhận sự tự nguyện chị T không yêu cầu anh S2 cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con chung và trợ cấp nuôi con chung.
Anh Trần Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3.Về tài sản và nợ chung: Các đương sự trình bày không có.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007559 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TANDTP. Hà Nội; - VKSND huyện Mỹ Đức; - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức; - UBND xã Hương Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Hồng |
Bản án số 117/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 117/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T - S
