|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 117/2024/HS-ST Ngày 14-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Văn Sóng – Nghề nghiệp: Công chức tư pháp
Bà Nguyễn Thị Vân – Nghề nghiệp: Giáo viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 26/TB-TA ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1981 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị X; có vợ là Lưu Thị T1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.
2. Lê Văn P, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Phạm Thị H; có vợ là Bùi Thị L1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.
3. Ngô Đức H1, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số C Phố M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đức H2 và bà Đoàn Thị T2; có vợ là Trần Thanh T3 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.
4. Bùi Thanh B1, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1981 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số A L, tổ dân phố B, thị trấn N, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M và bà Đào Thị N; có vợ là Nguyễn Thị Thúy L2 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 chuyển tạm giam. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn M1, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị D, chị Ma D1, chị Thèn Thị H3, anh Phạm Trọng Đ, anh Phạm Văn H4, anh Hoàng Văn L3, chị Điêu Thị Ngọc M2, sinh ngày 18/11/2007. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của chị Điêu Thị Ngọc M2: Ông Điêu Văn P1 và bà Chìu Thị T4 – là bố mẹ đẻ. Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, tại phòng Vip4 của quán K1 thuộc thôn D, xã T, huyện T, Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã T, huyện T bắt quả tang 04 đối tượng gồm: Lê Văn P, Nguyễn Văn T, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 đang hát và sử dụng ma túy cùng với nhóm nhân viên nữ phục vụ trong phòng gồm: Nguyễn Thị D, sinh ngày 07/4/2005 ở thôn B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Ma D1, sinh năm 1999 ở thôn M, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Thèn Thị H3, sinh năm 2004 ở bản H, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Điêu Thị Ngọc M2, sinh ngày 18/11/2007 ở bản Đ, phường N, thì xã M, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình bắt giữ còn có quản lý quán và nhân viên phục vụ quán là Trần Văn M1, sinh năm 1983 ở thôn F, xã T, huyện T, Hải Phòng và Phạm Trọng Đ, sinh năm 2002 ở thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên đều được đưa về trụ sở Công an để giải quyết.
Vật chứng thu giữ:
2
- Tại mặt bàn sát cửa ra vào, bên trái theo hướng nhìn từ màn hình Karaoke xuống có 01 đĩa sứ màu trắng, hình bầu dục, trong lòng đĩa có chứa tinh thể màu trắng (nghi chất ma túy), số tinh thể màu trắng này được thu gom vào 01 túi nilon kích thước 4cm x 7cm; 01 tẩu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá, thành ống có bám dính tinh thể màu trắng (nghi chất ma túy); 01 thẻ nhựa màu vàng, kích thước 5cm x 8cm bám dính tinh thể màu trắng;
- Tại giỏ đựng đồ ăn trên mặt bàn cuối phòng có 01 túi nilon kích thước 4cm x 7cm, bên trong có 02 viên nén hình trụ, màu trắng, bề mặt hình trái tim (nghi chất ma túy);
- Tạm giữ của Lê Văn P số tiền 2.000.000 đồng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp phòng hát Vip4 của quán K1, Cơ quan điều tra thu giữ: tại nền phòng Vip4 có 01 túi nilon kích thước 2,5cm x 2,5cm bên trong bám dính tinh thể màu trắng (nghi chất ma túy).
Tiến hành kiểm tra nước tiểu của các đối tượng bằng que thử chuyên dụng cho kết quả: trong thành phần nước tiểu của các đối tượng Bùi Thanh B1, Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ma D1, Điêu Thị Ngọc M2, Thèn Thị H3, Nguyễn Thị D đều dương tính với các chất ma túy MDMA, Methamphetamine và K; Ngô Đức H1 dương tính với chất ma túy Ketamine; Phạm Trọng Đ và Trần Văn M1 âm tính với các chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 893/KL-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: tinh thể màu trắng được thu gom tại lòng đĩa sứ là ma túy, có khối lượng 0,25gam, loại Ketamine. Tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ, thẻ nhựa màu vàng và trong ống tẩu được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 5000 đồng là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy bám dính. 02 viên nén hình trái tim thu giữ tại giỏ đồ ăn là ma túy, có khối lượng 0,82gam, loại MDMA. Tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon thu giữ tại nền phòng Vip4 là ma túy, loại Ketamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng P, H1, B1 đều trình bày: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/11/2023 Lê Văn P, Bùi Thanh B1, Nguyễn Văn T, Ngô Đức H1 và Phạm Văn H4 ngồi ăn cơm và uống rượu với nhau thì P rủ mọi người sau khi ăn xong sẽ đi hát mừng sinh nhật B1 thì T, H1, B1 đồng ý. Tiền, H1, B1 đưa cho P mỗi người 2.000.000 đồng để P cầm chi trả, sau này sẽ đóng góp thêm nếu thiếu. Tiền và B1 chuyển tiền vào tài khoản của P số tiền 4.000.000 đồng còn H1 đưa tiền mặt cho P số tiền 2.000.000 đồng. Tiền, P, B1, H1 bàn nhau sẽ mua 02 gam Ketamine và 05 viên thuốc lắc. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong thì H4 đi về nhà còn P gọi điện qua ứng dụng Zalo cho Trần Văn M1 đặt thuê một phòng hát cùng 03 nhân viên nữ phục vụ và nhờ M1 mua hộ bánh sinh nhật (P chưa trả tiền phòng và cũng không biết ai là người sẽ đặt mua ma túy và cũng chưa
3
trả tiền để mua ma túy). M1 ra bảo Đ chuẩn bị phòng hát Vip4 và đi mua bánh sinh nhật cho khách. M1 gọi điện cho Hoàng Văn L3, sinh năm 1987, nơi cư trú: thôn G, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng là quản lý nhân viên để thuê 03 nhân viên nữ phục vụ hát là D1, D, H5. L3 đồng ý và chở các nhân viên đến quán hát. Khoảng 45 phút sau thì P cùng T, B1, H1 đến quán hát và đi vào phòng Vip4 để hát. P ra quầy lễ tân bảo Đ là quản lý quán cầm đĩa vào phòng cho P, Đ cầm đĩa mang vào phòng để lên bàn rồi đi ra ngoài. Hát được khoảng 45 phút thì T đi ra ngoài, một lúc sau quay vào phòng, trên tay cầm 01 gói nilon và nói với những người trong phòng đã lấy được ma túy. Sau đó, T bỏ ma túy thuốc lắc ra nghiền rồi pha với nước cô-ca rồi tự sử dụng và để trên bàn nói với mọi người dùng đi, những người trong phòng cũng cầm cốc có pha ma túy để uống. Sau đó, T hơ đĩa, đổ ma túy Ketamine ra đĩa, lấy thẻ nhựa đảo, xào và kẻ thành nhiều đường rồi lấy tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng quấn thành tẩu rồi bê đĩa ma túy đi mời những người trong phòng sử dụng. Thấy có 03 nhân viên nữ nên T đi ra bảo M1 gọi thêm 01 nhân viên nữa, thì M1 gọi cho L3. L3 đồng ý rồi chở M2 đến quán hát. P nói với D1 và M2 sử dụng ma túy ketamine đi cho vui thì D1 và M2 đều sử dụng. Khi cả nhóm đang hát thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như trên. Số ma túy Công an thu được trong phòng hát là số ma túy còn lại chưa sử dụng hết và các đối tượng sẽ cùng sử dụng hết số ma túy này nếu không bị bắt. M1 và Đ ngồi ngoài quầy lễ tân và cửa quán, không lần nào vào phòng hát trong khi khách đang hát nên không biết trong phòng các đối tượng sử dụng ma túy.
Ngoài ra, Lê Văn P khai: T là người rủ cả nhóm mua ma túy để đem vào phòng hát sử dụng thì P, H1 và B1 đồng ý, còn H4 không nói gì mà ngồi bấm điện thoại.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai: Trong lúc ngồi ăn uống với Lê Văn P, Bùi Thanh B1, Ngô Đức H1 và Phạm Văn H4 thì P là người rủ mọi người sau khi ăn xong thì đi hát, thuê nhân viên và mua ma túy để cùng sử dụng thì cả nhóm đồng ý. Tiền không phải người rủ mọi người mua ma túy. Tiền nghĩ, P cầm tiền của mọi người thì sẽ là người đặt mua ma túy. Tiền không biết tại sao khi đang hát lại có người gọi mình ra ngoài cửa quán, khi T đi ra gặp một người đàn ông không quen biết đội mũ bảo hiểm, đeo khẩu trang hỏi “Tiền hả” thì T trả lời “đúng rồi, T đây”, người đàn ông này đưa cho T 01 túi nilon rồi rời đi. Tiền cầm túi nilon vào phòng hát bỏ ra thì biết đó là ma túy. Sau đó diễn biến trong phòng đúng như lời trình bày của P, H1 và B1 như trên.
Các đối tượng Thèn Thị H3, Điêu Thị Ngọc M2, Nguyễn Thị D, Ma D1 khai phù hợp với lời khai của P, B1, H1, T như nội dung nêu trên. Hường, M2, D, D1 là nhân viên quán hát được M1 điều đến để hát cùng khách. Khi vào phòng thấy nhóm khách sử dụng ma túy và được mời sử dụng cùng, trong quá trình sử dụng ma túy không ai tham gia đóng góp gì.
4
Tại Cơ quan điều tra, anh Phạm Trọng Đ và anh Trần Văn M1 (quản lý quán K1) đều khai: Trần Văn M1 và Phạm Trọng Đ là nhân viên quản lý quán K1. Trần Văn M1 là người bố trí phòng hát VIP4 cho nhóm của P, B1, H1, T. Phạm Trọng Đ là người mang đĩa sứ vào phòng hát. M1 và Đ không biết việc khách hát sử dụng ma tuý trong phòng và sử dụng đĩa sứ làm công cụ để sử dụng ma tuý.
Phạm Văn H4 trình bày trong quá trình ngồi ăn uống với nhóm của P, T, H1, B1 thì không tham gia bàn bạc và không đóng góp vào việc sử dụng ma túy. Sau khi ăn xong thì H4 ra về và không biết sự việc tiếp theo diễn ra như thế nào.
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSTN ngày 12 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, xác định: Lời khai tại cơ quan điều tra là đúng, các bị cáo tự nguyện khai báo, không bị ép cung, mớm cung. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan, sai. Số ma tuý thu giữ tại phòng hát, các bị cáo đều khẳng định nếu không bị Cơ quan Công an bắt giữ thì vẫn tiếp tục sử dụng. Ngoài ra, bị cáo Bùi Thanh B1 khai không xác định được ai là người khởi xướng việc mua ma tuý về tổ chức sử dụng. Bị cáo Ngô Đức H1 và Lê Văn P đều xác định có nghe thấy bị cáo Nguyễn Văn T nói mua Ketamine, còn không xác định được ai là người khởi xướng việc mua ma tuý về tổ chức sử dụng. Bị cáo Nguyễn Văn T xác định bị cáo Lê Văn P là người khởi xướng việc mua ma tuý về tổ chức sử dụng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt:
+ Bị cáo Nguyễn Văn T: Từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
+ Bị cáo Lê Văn P: Từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
5
+ Bị cáo Ngô Đức H1: Từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
+ Bị cáo Bùi Thanh B1: Từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 Tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số 893MT-B/PC09.
- + 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0782.080.xxx tạm giữ của Lê Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0943.231.xxx tạm giữ của Bùi Thanh B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0919.489.xxx và 0923348899 tạm giữ của Nguyễn Văn T.
- + Số tiền 2.000.000 đồng theo Giấy nộp tiền mặt số 24763496 ngày 12/4/2024 của Ngân hàng TMCP Đ1 cho người hưởng là Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên.
- Buộc bị cáo Lê Văn P nộp lại số tiền 6.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho anh Trần Văn M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0911.114.xxx tạm giữ của Trần Văn M1.
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + Chất ma tuý (0,18 gam Ketamine và 0,52 gam MDMA) và vỏ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có dấu niêm phong số 893MT/PC09.
- + 01 Đĩa sứ hình bầu dục màu trắng; 01 thẻ nhựa màu vàng và 01 vỏ bao gói được niêm phong trong cùng 01 bì giấy có dấu niêm phong số 893MT-A/PC09.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
6
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần nói lời sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận các bị cáo có hành vi như sau:
Tối ngày 04/11/2023, Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Bùi Thanh B1, Ngô Đức H1 đã cùng nhau đóng góp tiền (mỗi bị cáo 2.000.000 đồng) để mua ma túy, thuê địa điểm là phòng hát Vip4 tại quán K1 thuộc thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng để cùng nhau sử dụng ma túy và cho Thèn Thị H3, Điêu Thị Ngọc M2 (thời điểm đó 16 tuổi 14 ngày), Nguyễn Thị D, Ma D1 sử dụng ma túy cùng. Tiến hành kiểm tra nước tiểu của các đối tượng bằng que thử chuyên dụng cho kết quả: Trong thành phần nước tiểu của các đối tượng Bùi Thanh B1, Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ma D1, Điêu Thị Ngọc M2, Thèn Thị H3, Nguyễn Thị D đều dương tính với các chất ma túy MDMA, Methamphetamine và K; Ngô Đức H1 dương tính với chất ma túy Ketamine. Chính vì Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Bùi Thanh B1 và Ngô Đức H1 cùng chung ý chí đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Bùi Thanh B1 và Ngô Đức H1 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố và kết luận là có căn cứ và đúng pháp luật.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Các bị cáo có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người sử dụng, trong đó có Điêu Thị Ngọc M2 tại thời điểm đó 16 tuổi 14 ngày. Do đó, các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 bị xét xử theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự: “Đối với 02 người trở lên” và “ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” như Viện kiểm sát truy tố, kết luận là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
7
[4] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về vai trò: Đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò để đánh giá về hình phạt. Trong vụ án này, tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn T cho rằng bị cáo Lê Văn P là người khởi xướng trong việc mua ma tuý về tổ chức sử dụng, bị cáo Lê Văn P cho rằng bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xướng trong việc mua ma tuý về tổ chức sử dụng. Lời khai của bị cáo Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 không có sự thống nhất, cụ thể: Tại Cơ quan điều tra lời khai của bị cáo Ngô Đức H1 thể hiện: Có lời khai bị cáo Ngô Đức H1 khai là cả bị cáo T, P là người khởi xướng (BL 198-200, 202, 206), có lời khai thể hiện là P là người khởi xướng (BL 210, 214), có lời khai thể hiện là T khởi xướng (BL 203, 216A), có lời khai thể hiện không biết là ai (BL 201), tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Ngô Đức H1 khai chỉ nghe thấy T nói mua Ketamine, không biết ai là người khởi xướng. Lời khai của Bùi Thanh B1 thể hiện: Có lời khai thể hiện là cả P, T khởi xướng (BL 244, 246, 250), có lời khai là P khởi xướng (BL 255), có lời khai thể hiện B1 không biết ai là người khởi khởi xướng (BL 252, 253, 257B), tại phiên toà bị cáo Lê Thanh B2 khai không xác định được ai là người khởi xướng. Như vậy, chưa đủ cơ sở để xác định bị cáo Nguyễn Văn T hay Lê Văn P là người khởi xướng trong việc mua ma tuý về để tổ chức sử dụng nhưng có đủ cơ sở xác định: Bị cáo Nguyễn Văn T là người giữ vai trò cao nhất trong vụ án bởi lẽ: Bị cáo là người trực tiếp lấy, nhận ma túy để sử dụng, thuê nhân viên nữ là M2 để cùng tham gia sử dụng ma túy, pha chế thuốc lắc, chia, xào kẻ ma túy Ketamine, quấn tẩu để cả nhóm sử dụng, đóng góp tiền cho P. Bị cáo P là người nhận tiền đóng góp của B2, T, H1, gọi điện đặt phòng hát và thuê nhân viên nữ là H3, D và D1; trong phòng hát mời D1 và M2 sử dụng ma túy. Còn bị cáo H1 và B2 là người bàn bạc cùng với T và P về việc sử dụng ma túy và đóng góp tiền cho P. Do đó vai trò của bị cáo P cao hơn so với bị cáo H1 và B2 nhưng thấp hơn bị cáo T, bị cáo H1 và B2 vai trò cơ bản ngang nhau.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án tiền sự, nhân thân tốt.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo. Bị cáo Nguyễn Văn T có đóng góp nhiều cho các hoạt động trợ giúp bà mẹ Việt Nam anh hùng và các nạn nhân chất động màu da cam; bị
8
cáo P có bác ruột (Lê Văn S) là liệt sĩ và hiện tại đang thờ cúng; bị cáo B2 đã từng tham gia phục vụ quân đội và được tặng bằng khen, giấy khen, chiến sỹ thi đua cơ sở; bị cáo H1 có bố đẻ là người có công với C mạng trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
- Về hình phạt:
[9] Từ phân tích nêu trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nhau, căn cứ vào vai trò thì mức hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T là cao nhất, tiếp đến là Lê Văn P và cuối cùng là Ngô Đức H1, Bùi Thanh B1 cơ bản là ngang nhau.
[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền với mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc mà công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều phạm tội lần đầu, khi bị bắt là lao động tự do, còn phải nuôi con nhỏ nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
[11] Chất ma tuý (0,18 gam Ketamine và 0,52 gam MDMA) và vỏ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có dấu niêm phong số 893MT/PC09. Xét thấy, ma túy là vật cấm lưu hành, sử dụng trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy.
[12] 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0911.114.xxx tạm giữ của Trần Văn M1, là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn M1, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho anh Trần Văn M1.
[13] 01 Đĩa sứ hình bầu dục màu trắng; 01 thẻ nhựa màu vàng và 01 vỏ bao gói được niêm phong trong cùng 01 bì giấy có dấu niêm phong số 893MT-A/PC09, đều được sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[14] 01 Tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số 893MT-B/PC09 sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[15] 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0782.080.xxx tạm giữ của Lê Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0943.231.xxx tạm giữ của Bùi Thanh B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu
9
Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0919.489.xxx và 0923348899 tạm giữ của Nguyễn Văn T. Toàn bộ điện thoại nêu trên đều sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, phát mại để sung vào ngân sách nhà nước.
[16] Bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 thống nhất mỗi bị cáo góp 2.000.000 đồng, tổng cộng là 8.000.000 đồng để đi hát và mua ma tuý. Toàn bộ số tiền này do bị cáo Lê Văn P giữ, chưa trả tiền phòng hát, mua ma tuý và được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước. Trong tổng số tiền 8.000.000 đồng trên thì Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Văn P 2.000.000 đồng, do đó cần buộc Lê Văn P phải nộp lại số tiền 6.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí:
[17] Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về các nội dung khác:
[18] Đối với đối tượng đưa ma túy cho Nguyễn Văn T ở khu vực cổng quán T, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý.
[19] Các đối tượng Thèn Thị H3, Điêu Thị Ngọc M2, Nguyễn Thị D, Ma D1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên.
[20] Đối với Trần Văn M1 và Phạm Trọng Đ là nhân viên quản lý quán hát karaoke, quá trình điều tra xác định M1, Đ không biết việc các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng hát đã thuê trước đó do mình quản lý nên Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Phạm Trọng Đ còn có hành vi lấy đĩa sứ mang vào phòng Vip4 do P gọi mang vào, sau đó chiếc đĩa này các đối tượng sử dụng để đựng Ketamine. Đ không biết các đối tượng sử dụng chiếc đĩa để đựng ma túy nên không xử lý hình sự. Trần Văn M1 còn có hành vi gọi cho L3 điều 04 nhân viên nữ để phục vụ khách hát karaoke, không biết 04 nhân viên nữ sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[21] Đối với Hoàng Văn L3 là quản lý, điều và chở 04 nhân viên nữ là Thèn Thị H3, Điêu Thị Ngọc M2, Nguyễn Thị D, Ma D1 đến quán hát theo yêu cầu của Trần Văn M1 để phục vụ khách hát karaoke, không biết các nữ nhân viên sử dụng ma túy tại phòng hát nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[22] Phạm Văn H4 không tham gia bàn bạc và không đóng góp vào việc đi thuê phòng hát và mua ma túy để sử dụng. H4 không tham gia hát và sử dụng ma túy tại phòng hát không có dấu hiệu phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý.
10
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Văn P, Ngô Đức H1 và Bùi Thanh B1 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn T: 08 (Tám) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
- Bị cáo Lê Văn P: 08 (T5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
- Bị cáo Ngô Đức H1: 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
- Bị cáo Bùi Thanh B1: 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 Tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, được niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong trong bì giấy có dấu niêm phong số 893MT-B/PC09.
- + 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0782.080.xxx tạm giữ của Lê Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0943.231.xxx tạm giữ của Bùi Thanh B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen (đã qua sử dụng), bên trong gắn 02 sim điện thoại số 0919.489.xxx và 0923348899 tạm giữ của Nguyễn Văn T.
- + Số tiền 2.000.000 đồng theo Giấy nộp tiền mặt số 24763496 ngày 12/4/2024 của Ngân hàng TMCP Đ1 cho người hưởng là Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên.
- Buộc bị cáo Lê Văn P nộp lại số tiền 6.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Trả lại cho anh Trần Văn M1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng (đã qua sử dụng), bên trong gắn 01 sim điện thoại số 0911.114.xxx tạm giữ của Trần Văn M1.
11
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + Chất ma tuý (0,18 gam Ketamine và 0,52 gam MDMA) và vỏ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì có dấu niêm phong số 893MT/PC09.
- + 01 Đĩa sứ hình bầu dục màu trắng; 01 thẻ nhựa màu vàng và 01 vỏ bao gói được niêm phong trong cùng 01 bì giấy có dấu niêm phong số 893MT-A/PC09.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
12
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
Vũ Thị Hằng
14
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Hằng
15
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
16
Vũ Thị Hằng
17
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuyến |
18
Phiếu gửi bảo đảm bản án hình sự sơ thẩm số 88 ngày 14/7/2022 (Phùng Hoài Ngọc – TK Hằng)
- - TAND cấp cao tại Hà Nội; địa chỉ: Số A, Phạm Văn B3, phường Y,C ầu Giấy, Hà Nội ; RG 186 302 241 V
- - VKSND cấp cao tại Hà Nội; địa chỉ: Số I, P, phường Y,C ầu Giấy, Hà Nội ; RG 186 302 238 V
- - Vụ Giám đốc kiểm tra 1 - TAND tối cao; địa chỉ: Số D L, B, Hà Nội. RG 186 302 255 V
19
Bản án số 117/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 117/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tiền + Đồng phạm
